Tiểu Sử Phra Ajahn Mun Bhuridatta - Phần 3 Giấc Mộng Điềm Báo Và Samadhi-Nimitta
06/05/2026
Phần 3 trong bộ tiểu sử do Phra Ariyakhunathan biên soạn ghi lại các trải nghiệm nội tâm sâu xa của Phra Ajahn Mun trong giai đoạn đầu hành thiền tại Wat Liap (Ubon Ratchathani) - giấc mộng điềm báo về con đường tu, các samadhi-nimitta xuất hiện liên tục năm lần với hình tướng bất tịnh, núi năm bậc, thuyền buồm trên đỉnh, pháp tòa bằng bạc và lưỡi dao cạo, và cuối cùng là phương pháp quán thân ngược lên xuống đưa tâm an trú đúng đường. Từ đây Ngài rời ra Phu Lon, xuống Bangkok học pháp với Chao Khun Phra Ubali rồi quay về dạy đệ tử ở Đông Bắc.

Phần 3 trong bộ tiểu sử do Phra Ariyakhunathan biên soạn đi sâu vào những trải nghiệm nội tâm của Phra Ajahn Mun trong giai đoạn đầu hành thiền tại Wat Liap (Ubon Ratchathani) cùng Phra Ajahn Sao Kantasilo. Đây là giai đoạn mà giấc mộng điềm báo và các samadhi-nimitta đã chỉ lối cho Ngài đi vào pháp hành đúng đắn.
Giấc mộng điềm báo
Theo lời Ngài kể, khi đang học thiền kammaṭṭhāna tại trú xứ của Phra Ajahn Sao Kantasilo Thera ở Wat Liap, trong giai đoạn đầu Ngài còn dùng câu niệm "Buddho, Buddho..." Một đêm, khoảng nửa đêm, Ngài có giấc mộng điềm báo: Ngài bước ra khỏi một ngôi làng, một bên là rừng, qua khỏi rừng thì đến cánh đồng hoang rộng mênh mông. Đi tiếp Ngài thấy một cây "chạt" đã bị đốn ngã, gốc cao chừng một gang tay, to độ một vòng ôm. Trèo lên khúc gỗ ấy quán xét, Ngài thấy gỗ đã mục rữa một phần, không thể mọc lại được nữa.
Đang lúc quán xét, có một con ngựa từ đâu đến, Ngài leo lên cưỡi. Ngựa đưa Ngài chạy về hướng đông bắc với hết tốc lực. Phía trước hiện ra một cái tủ giống tủ đựng Tam Tạng, trang sức bằng bạc trắng lấp lánh. Ngựa đưa Ngài chạy thẳng vào tủ rồi biến mất. Ngài đứng trước tủ Tam Tạng nhưng không mở ra xem. Nhìn về phía trước thấy là một khu rừng rậm đầy gai góc, không thể đi tiếp được. Rồi Ngài tỉnh.
Giấc mộng này là điềm báo về niềm tin vững chắc trong sự tu tập. Về sau Ngài quán xét hiểu ra:
- Việc xuất gia trong Phật giáo, hành Bát Thánh Đạo - như "ra khỏi nhà"; "nhà" là mọi lỗi lầm, "rừng" là phiền não.
- Đến được đồng trống mênh mông là buông bỏ lỗi lầm, chỉ làm điều thiện.
- Khúc gỗ chạt chỉ "jāti" - sự sinh; con ngựa là vipassanā-paññā - trí tuệ minh sát đến để sửa lỗi lầm.
- Leo lên ngựa và chạy vào tủ Tam Tạng - khi quán xét sẽ thành tựu paṭisambhidānusāsanī, thuần thục trong việc chỉ dạy môn đồ; nhưng vì không mở tủ ra xem nên không đạt catu-paṭisambhidā-ñāṇa (bốn tuệ phân tích).
- Phía trước đầy gai góc - quán xét vượt quá magga và sacca thì chính là sai lạc.
Hiểu được ý nghĩa, Ngài thu tâm trở về quán thân (kāyagatā-sati bhāvanā).
Năm lần samadhi-nimitta tại Wat Liap
Cũng tại Wat Liap, khi tu tập kammaṭṭhāna với câu niệm "Buddho, Buddho", Ngài trải qua năm tướng định tiếp nối nhau.
Lần thứ nhất - tướng bất tịnh (asubha): Khi tâm gom lại, Ngài thấy một xác chết trước mặt cách chỗ ngồi khoảng một sải, có một con chó đang kéo ruột xác ăn. Ngài không thối lui, vẫn chú tâm vào tướng đó. Qua nhiều ngày, Ngài mở rộng cho xác thối rữa, mục nát, tan thành tro bụi; có cả xác cũ và xác mới đầy chùa, có kên kên, quạ, chó tranh nhau ăn - cho đến khi tướng bất tịnh ấy biến thành vòng tròn ngọc.
Lần thứ hai - vòng ngọc kasina: Toàn bộ tướng bất tịnh đã chuyển thành vòng tròn ngọc trắng trong sáng như kasina màu trắng. Ngài chỉ chú tâm quán xét trong vòng đó.
Lần thứ ba - núi năm bậc và bức tường có cửa: Tiếp tục quán chiếu, hiện ra một ngọn núi có 5 bậc; Ngài bước lên đến bậc thứ 5 thì dừng, rồi trở về. Khi đi, Ngài thấy mình đeo một thanh kiếm rất sắc, chân mang giày. Đêm sau xuất hiện một bức tường có cửa - Ngài đẩy cửa vào, đi theo con đường thẳng. Hai bên có chỗ ở của 2-3 vị tỳ-kheo đang ngồi thiền (hình mái vòm xe bò), có hang đá vách núi, có một vị đạo sĩ tá túc trong hang. Ngài không để tâm, đi tiếp đến vách đá cao thì quay về.
Lần thứ tư - thuyền buồm trên đỉnh núi: Đêm sau, đến vách đá thấy một cái nôi có dây thả xuống. Ngài leo vào, nôi kéo lên đỉnh núi; trên đỉnh có chiếc thuyền buồm lớn. Trên thuyền có chiếc bàn vuông trải khăn xanh mịn, bốn phương có đèn dầu sáng rực. Ngài thấy mình ngồi trên bàn ấy, thọ thực với dưa và nhiều món khác. Dùng xong, nhìn phía trước thấy bờ bên kia xa lắm, không thể qua vì có vực sâu. Ngài quay về.
Lần thứ năm - gặp Chao Khun Phra Ubali và pháp tòa bằng bạc: Lần sau xuất hiện cây cầu nhỏ bắc qua bờ bên kia; Ngài đi đến nơi thấy bức tường rất cao, có hào có đài quan sát. Lần lượt, Ngài đẩy được cửa nhỏ rồi cửa lớn. Vào trong thấy cột cờ vàng dựng giữa thành. Đi tiếp có đường tốt sạch, có mái che, có đèn treo. Đến chánh điện, bên trong có đường kinh hành; rồi hiện ra một pháp tòa (dhammāsana) lộng lẫy bằng bạc. Ngài bước lên ngồi - trên tòa có một bình bát, mở ra thấy một lưỡi dao cạo. Đến đây thì dừng. Tướng này xuất hiện suốt 3 tháng. Trên cầu, Ngài còn gặp Chao Khun Phra Ubali (Sirichantha Thera Chan) đi ngược đến, nói: "Aṭṭhaṅgiko maggo" (Bát Thánh Đạo).
Đổi phương pháp - quán thân ngược lên xuống
Sau đó, khi xuất định, Ngài thấy đối tượng bên ngoài vẫn tác động - đẹp khởi ái, xấu khởi sân. Ngài quán xét: pháp hành ấy còn ở bên ngoài, khi chạm đối tượng còn rung động, có lẽ chưa phải là đạo. Ngài chuyển phương pháp: quán thân này ngược lên và xuống - "Uddhaṃ adho tiriyañcāpi majjhe" - bên trên từ ngón chân lên, bên dưới từ chóp tóc xuống, và bên hông chính giữa toàn thân, bằng đi kinh hành.
Qua 3 ngày, Ngài ngồi quán lại. Lần này tâm gom, thân tách ra làm hai phần, đồng thời biết rõ: "Ồ, đây mới đúng rồi, vì tâm không hướng ra ngoài mà có chánh niệm an trú tại chỗ." Đây là phương pháp đúng lần đầu tiên.
Phu Lon - khởi tu samatha-vipassanā đầu tiên
Mãn hạ, vào mùa khô, Ngài du hành tìm nơi vắng vẻ - khi qua bờ trái, khi qua bờ phải sông Mekong. Khoảng năm PL. 2440 (1897), Phra Ajahn Sao đưa Ngài lên Phu Lon (cách làng Kham Bong khoảng 5 km) - vùng đầy sốt rét rừng và thú dữ. Hai Ngài dẫn dân làng phụ khuân đá khuân đất đắp thành hang có cửa đóng mở (dùng đất sét trộn đá vụn rơm rạ trát) đủ làm nơi trú ngụ, ngăn thú dữ.
Sau khi chỉ dạy đầy đủ và biết Phra Ajahn Mun đã có thể tự tinh tấn một mình, Phra Ajahn Sao tách ra đi tìm chốn vắng khác. Ngài tu tại Phu Lon khoảng 5 năm. Đến PL. 2449 (1906), Ngài thuyết pháp dạy mẹ, bà phát tâm rời nhà giữ giới hạnh thanh tịnh đi theo Ngài; sau đó Ngài không trở lại Phu Lon nữa.
Xuống Bangkok học pháp - Chao Khun Phra Ubali
Khi hạ lạp đã tương đối, Ngài xuống Bangkok - nơi tập trung các bậc trí giả - trú tại Wat Pathumwan, năng đến nghe pháp với Chao Khun Phra Ubali (Sirichantha Thera Chan) tại Wat Boromniwat. Một hôm trên đường về cùng 4-5 vị sahadhammika, khi đi qua Trường Cục Bản Đồ (cung điện cũ của Phra Sawat), Ngài có được phương pháp vipassanā, lấy ngôi trường ấy làm tướng: "Mọi vật đều sinh ra từ cái đã có sẵn (đất làm nền cho đất)."
Từ đó Ngài quán xét theo phương pháp vipassanā không ngừng nghỉ, ra tu tinh tấn tại núi Phra Ngam (hang Phai Khwang) và hang Singto, rồi hiểu rõ Pháp và Luật mà Đức Như Lai đã tuyên thuyết.
Trở về Đông Bắc và lên Chiang Mai
Đến hạ lạp thứ 23, Ngài trở về với tăng chúng vùng Đông Bắc; tỳ-kheo, sa-di đến học ngày càng đông, có Phra Ajahn Singh Khantayakhamo làm đầu. Đến hạ lạp thứ 38, Ngài rời tăng chúng, về nhập hạ tại Wat Pathumwan, rồi theo Chao Khun Phra Ubali lên Chiang Mai - nghỉ tại Wat Chedi Luang một hạ, sau đó đi các nơi vắng lặng, thi thoảng quay lại nhập hạ tại Wat Chedi Luang. Tổng cộng 11 năm, Ngài mới trở về miền Đông Bắc theo lời thỉnh của Chao Khun Phra Thammachedi, cho đến thời kỳ cuối cùng.
Phần 3 cho thấy bước trưởng thành tâm linh quyết định của Phra Ajahn Mun: từ những samadhi-nimitta tưởng như màu nhiệm, Ngài tỉnh táo nhận ra bẫy của tâm hướng ra ngoài, quay về quán thân và mở được con đường vipassanā chân chính - nền tảng cho toàn bộ giáo pháp Forest tradition về sau.
Cao tăng trong bài viết này
Ajahn Mun Bhuridatta
Xem tiểu sử đầy đủ và vật phẩm tiêu biểu