Giai Thoại Phra Ajahn Mun Bhuridatta - Phần 1 Theo Hồi Ức Phra Ajahn Thongkham
06/05/2026
Phần đầu trong loạt giai thoại tiểu sử Phra Ajahn Mun do Phra Ajahn Thongkham Ñāṇobhāso (sau là Luang Ta Thongkham Jaruwanno) ghi lại - vị thị giả thân cận Luang Pu Mun từ thời Wat Pa Visuddhidharm bản Khok đến lúc Ngài viên tịch tại Wat Pa Sutthawat. Bài tập hợp các mẩu chuyện: uy lực kinh Phật và tiếng sadhu vọng tới chư thiên trên núi Citrakuta; cuộc đàm đạo về cõi và Niết-bàn với Luang Pu Tesk Tesrangsi khi Ngài lâm bệnh; câu chuyện Phật Ngọc Lục Bảo qua lời Hòa thượng Un Uttamo; gặp vua Long Suvanna ở Chiang Mai; lời nguyện không cho chụp ảnh nếu không chỉnh tề; tiên tri kéo dài thọ mạng từ 60 lên 80 nhờ iddhipāda; và mẩu chuyện rúng động về ma Chiang Juang ngồi canh xương con gái 500 năm.

Bên cạnh các bản tiểu sử chính thức, còn có một loạt giai thoại gần gũi do Phra Ajahn Thongkham Ñāṇobhāso (sau là Luang Ta Thongkham Jaruwanno) ghi lại trong sách "Hồi ức xa xưa". Phra Ajahn Thongkham là thị giả thân cận của Luang Pu Mun, có dịp ở với Ngài thời tại bản Khok và bản Na Mon (PL. 2486-2487), rồi tiếp tục theo hầu cùng Phra Ajahn Wan Uttamo và Luang Pu La Khemapatto tại chùa Pa Ban Nong Phue (PL. 2488-2492) cho đến khi Ngài viên tịch.
Lời tựa của tác giả và Luang Pu Lot
Phra Ajahn Thongkham viết bản ghi chép này năm PL. 2541 (1998) khi 75 tuổi, theo lời thỉnh cầu của Chao Khun Phra Rachabandit chùa Pathumwanaram. Quỹ Saeng Tawan đã in sách năm PL. 2547 (2004). Luang Pu Lot Pamoṭito - người từng an cư cùng Luang Ta Thongkham và Luang Pu Mun tại chùa Pa Visuddhidharm bản Khok năm PL. 2487 (1944) - đã viết lời tựa, đặc biệt nhấn mạnh giá trị của bài "Thuyết lại cho người già" được xem là thời pháp cuối cùng của Luang Pu Mun.
Phra Ajahn Thongkham nhắn nhủ: "Đọc có vicāraṇa (tư duy phân biệt), cân nhắc Pháp cho kỹ lưỡng." Một số chuyện khởi từ nguyên cớ riêng (atthupatti-hetu), như chuyện về Đức Phật là tổ tiên người Thái, "không thấy trong sử và các Tạng kinh, làm người nghe ngỡ ngàng rối trí. Vì có chuyện như vậy, xin hãy để trong sự cân nhắc, nhận lấy phần lợi ích là được."
Uy lực của tụng kinh và tiếng sadhu
Thời Phra Ajahn Mun trú trên núi Pa-rong (Chiang Mai) cùng Phra Ajahn Manu, sáng đi khất thực xong, khi chú nguyện, Ngài dạy dân làng đồng thanh đáp "sādhu!" bằng giọng cao - Ngài kể đùa rằng hai tay họ giơ lên như pháo bông phóng vào không trung.
Một hôm có nhóm thiên nhân từ núi Citrakūṭa đến hỏi: "Tiếng 'sādhu sādhu' đó là sādhu gì? Vang dội mỗi ngày, chư thiên nghe đều an lạc theo." Ngài quán xét, biết là tiếng sādhu-kāra của dân làng lúc dâng cúng. Chư thiên nghe rồi nói: "Họ cũng tán thán sādhu với ạ!" Rồi padakkhiṇa đảnh lễ trở về.
Theo lời Ngài quán chiếu: kinh Phật ai tụng cũng vậy, niệm trong tâm thì uy lực trải khắp một vạn thiên giới; tụng thành tiếng vừa nghe được, uy lực trải khắp trăm ngàn thiên giới; tụng sáng chiều bình thường, uy lực trải khắp trăm koti thiên giới; tụng hết sức hết tiếng, uy lực trải khắp vô lượng thiên giới.
Đàm đạo với Phra Ajahn Tesk
Thời Phra Ajahn Mun lâm bệnh nặng nhưng vẫn đứng dậy ngồi đi được, vẫn đàm đạo Pháp. Một buổi chiều có Phra Ajahn Tesk (Luang Pu Tesk Tesrangsi), Phra Ajahn Wan Uttamo, người kể (Luang Ta Thongkham), cùng với Phra Ajahn Mun.
Phra Ajahn Tesk hỏi: "Thưa thầy, lúc thầy tổ bệnh thì quán Pháp gì? Con hỏi với tư cách đệ tử kính thầy, xin đừng hiểu là truy vấn đạo lực."
Ngài đáp: "Quán bao nhiêu cũng chỉ thấy cõi, chỉ có cõi, không có tận cùng."
Phra Ajahn Tesk hỏi lại: "Thấy chỉ có cõi, thầy quán để làm gì?"
Ngài đáp: "Để biết. Ta biết đã lâu rồi, không nghi ngờ. Quán để cho ngài và những người khác biết rằng: người và thú trong cõi, hoặc hành giả, đều có lúc vui, lúc hồi hộp, lúc buồn, lúc thấy Pháp - aniccaṃ, dukkhaṃ, anattā. Người biết mình ở trong cõi rất ít - vì vô minh che. Không biết mình ở trong cõi thì không biết Niết-bàn. Khi ta biết mình ở trong cõi rồi, ở trong cõi làm gì - cứ ở trong Niết-bàn là xong."
Phật Ngọc Lục Bảo
Tại Wat Pa Ban Nong Phue, Hòa thượng Un Uttamo (Phra Khru Boriban Sangkhakit, chùa Udomrattanaram) đến đảnh lễ và mang theo hình Phật Ngọc Lục Bảo khổ 20 inch dâng Ngài. Sau khi Hòa thượng Un xuống kuti, Phra Ajahn lấy tấm vải tắm của mình lau chùi. Người kể đem giẻ lau sàn định giúp - Ngài quay lại nói: "Gì vậy? Đây là hình Đức Phật thật mà lại lấy giẻ lau sàn chùi?" Ngài tự lau lấy.
Khi các sư huynh đệ lên, Ngài thuyết về điều kỳ diệu của Phật Ngọc:
"Phật Ngọc Lục Bảo tôn trí ở nước nào, nước đó không thiếu bậc Thánh (Ariya-puggala). Bậc Thánh có ở nước nào, nước đó sẽ không diệt vong bởi tai họa chiến tranh."
Ngài nói chùa Phật Ngọc là chùa riêng của Đức Phật; chư tăng không ở được vì không biết phong cách Phật, nghi thức Phật. Thời Phật chỉ có vua Tần-bà-sa-la (Bimbisāra) biết. Các đời vua Thái đều biết phong cách Phật và đã xây chùa dâng riêng cho Phật Ngọc - họ là Buddhāṅkura (chồi nòi giống Phật, sẽ thành Phật trong tương lai). Ai đặt chân vào chùa Phật Ngọc đều được phước; người nước ngoài có duyên vào, dù tình cờ, cũng đã vào vòng Phật giáo theo cách gián tiếp.
Gặp vua Long Suvanna-nagaraja
Tại Chiang Mai, Phra Ajahn an cư trên núi với người Mu-sơ, có Phra Maha Thongsuk làm bạn. Gần chỗ trú là dòng suối có một vua Long tên Suvaṇṇa-nāgarāja cùng quyến thuộc. Theo lời Ngài kể, vua Long này từng là em trai Phra Ajahn Mun nhiều kiếp; do rối loạn cõi nên sinh làm vua Long. Vua Long yêu kính và hộ vệ Ngài chu đáo, mỗi lần Ngài kinh hành đều đến hộ trợ.
Một hôm vua Long mất dạng, hạn hán xảy ra. Khoảng 15-16 ngày sau vua Long xuất hiện trở lại, đáp: "Đi chặn quân ở cửa ngõ chảy xuống sông Ping. Có một long côn đồ định xâm nhập, sẽ bắt nạt quyến thuộc, ta phải chiến đấu tự vệ." Ngài hiểu rằng đây là đặc tính của chúng sinh - có vô minh làm nhân, nên thế giới mới loạn.
Buổi chiều mưa to suốt đến sáng. Phra Maha Thongsuk lấy tre cắm thành hàng, dây leo buộc, đỡ Ngài qua suối. Lúc đưa Ngài qua, "cảm giác như đi đạp trên tảng đá, nước chỉ đến đầu gối." Vua Long sau đó đùa: "Ngài đi trên lưng của tôi thoải mái đấy thôi."
Việc chụp ảnh
Theo lời kể, hình Phra Ajahn mà ta thấy đều là những tấm Ngài chủ ý cho chụp - nếu Ngài không cho, không ai chụp dính được. Có lần bác sĩ của Khun Sri Pathumwong mang thợ chụp đến xin: "Chúng con xin phép chụp ảnh thầy tổ làm đối tượng kính thờ." Ngài đáp: "Không được đâu, đệ tử bác sĩ. Ta không cho. Vì bác sĩ chụp ảnh ta về để làm thương mãi, kiếm kế sinh nhai, sợ các ngươi bị tội."
Hôm sau họ vẫn lén chụp bốn cuộn lúc khất thực, hai lần sau mỗi lần thêm bốn tư thế. Về rửa ảnh ở Phang Khon - không có gì dính cả. Phra Ajahn Thongkham giải thích: vì thấy hình như vậy có thể khiến tâm người sinh thiện hoặc bất thiện, nên Ngài phát nguyện không cho dính. Tấm đứng còn lại có lẽ là tấm Ngài muốn cho chụp - đắp y chỉnh tề, dáng đang kinh hành.
Về kinh hành, mùa lạnh Ngài khoác áo ấm, mùa nóng chỉ mặc aṃsa; nhịp đi bình thường - không nhanh không chậm. Hướng kinh hành có hai: Đông-Tây, hoặc Đông Bắc-Tây Nam (īsāna-horadi). Ai đi ngang mặt trời Ngài la: "Sai rồi. Đi chết cũng không gom được tâm đâu."
Tiên tri kéo dài thọ mạng
Năm an cư tại huyện Phrao, Chiang Mai cùng Phra Maha Thongsuk Sucitto, Ngài lâm bệnh. Theo lời Ngài kể, Ngài biết rõ đã đến tuổi thọ - năm đó chắc chắn phải tạ thế. Nhưng có điều kiện: nếu có iddhipāda (tứ như ý túc) được tu tập tốt, có thể sống thêm 20 năm, lên 80 tuổi bằng Đức Phật.
Bệnh tình không đỡ. Tháng thứ 2 qua, phát sinh tri kiến chưa từng nghe: "Iddhipāda 4 được huân tu tốt, chính là quán Bojjhaṅga 7 này." Ngài giảng: "Ta quán pubbabhāga-paṭipadā, từ tâm gom thành định theo thứ tự - sơ thiền, nhị thiền, tam thiền - rồi nhập arūpa-jhāna tiếp... cho đến nevasaññā-nāsaññāyatana; rồi rút tâm ra trú saññā-vedayita-nirodha. Ví như đường ba ngã - một ngã đi arūpa-brahmaloka, một ngã đi rūpa-brahmaloka, một ngã vào Niết-bàn. Tâm ở tầng này, ta phát nguyện sẽ sống tiếp."
Đến được mức này là tháng cuối cùng của hạ. Như Đức Phật từng dạy Phra Ananda: "Người có iddhipāda tu tốt có thể sống cả kiếp hay hơn."
Bát đồ trong nhà bảo tàng
Phra Ajahn Mun giữ hạnh 3 y (tecīvarikaṅga) và hạnh y phân tảo (paṃsukūlikaṅga). Nhưng 3 năm cuối, Ngài mặc y gahapati-cīvara do ông Wan và bà Thongsuk Khomnamun người Nakhon Ratchasima đem dâng kathina, được Phra Ajahn Singh Khantayagamo ủng hộ - nhưng Phra Ajahn Mun nhận như paa-paa (y tòng lâm) hết.
Bát đồ trưng bày trong bảo tàng tại Wat Pa Sutthawat, Sakon Nakhon là y gahapati-cīvara năm thứ hai Ngài mặc. Y năm cuối đã đắp theo nhục thân Ngài. Chiếc bát thật của Ngài, Phra Ajahn Maha Thongsuk xin dâng Phra Dhammacetiya (Chum Panthulo). Bát đồ chính thức của Ngài chỉ cần 2 người cầm đi là hết - một bậc thiểu dục thật sự.
Ma canh xương 500 năm
Khoảng năm PL. 2490 (1947), tại Wat Pa Ban Nong Phue, ông Fong Chinnabut vác đến dâng Phra Ajahn một cái chum lớn đựng xương trẻ con đã chôn đất. Ông Fong kể lý do:
Ông Ku Phimphabut - chủ ruộng - định đi cày sớm; thiu thiu ngủ thì mơ thấy một người đàn ông đến bảo: "Hãy đi lấy 2 chum đựng xương, đem dâng Phra Ajahn Mun." Hỏi tên, người ấy đáp: "Tên lão Chiang Juang. Tôi đến canh xương con mình ở đây đã 500 năm. Một hôm nghe tiếng Phra Ajahn Mun thuyết pháp vọng đến vào ban đêm, nói rằng: 'như con chó ngồi canh xương rồi cắn lẫn nhau, còn thịt ngon nhuyễn đã bị người ăn hết, chỉ còn mải ngồi canh xương mình, xương vợ xương con. Chết rồi thành ma ngạ quỷ, phải ngồi canh xương đến 500 năm rồi, mới tỉnh ra'."
Đây là vì lòng yêu, lòng luyến tiếc làm nhân đưa đi sinh làm ma làm ngạ quỷ, canh giữ thứ mình yêu và luyến tiếc, quên ngày quên giờ.
Phần 1 các giai thoại của Phra Ajahn Thongkham mở ra một phía khác của Phra Ajahn Mun - không phải tiểu sử trang trọng mà là những lát cắt đời thường: tiếng sadhu vọng tới núi Citrakuta, lời quở vì giẻ lau sàn, vua Long làm mưa, lời tiên tri thọ mạng và tiếng pháp xuyên qua đêm tới một con ma 500 năm.
Cao tăng trong bài viết này
Ajahn Mun Bhuridatta
Xem tiểu sử đầy đủ và vật phẩm tiêu biểu