Giai Thoại Phra Ajahn Mun Bhuridatta - Phần 2 Thuyết Pháp Suốt Đêm Và Hành Trạng Sơn Dân
06/05/2026
Phần 2 trong loạt giai thoại của Phra Ajahn Thongkham gom nhiều chi tiết quý: giọng giảng pháp đặc biệt của Luang Pu Mun - càng giảng càng vang lớn như gắn micro, có khi từ 7 giờ tối đến 11 giờ sáng hôm sau ở Wat Chedi Luang khiến người đi chợ quên cả việc; câu chuyện chuẩn bị tâm tiếp 500.000 chư thiên cõi Tāvatiṃsa do Pañcasikha báo trước; thái độ thẳng thắn từ chối kathina đăng ký của quận trưởng Phannanikhom; uy lực jhāna che át tiếng sét; quy định bắt buộc thuộc Pāṭimokkha mới được ở tu; pubbenivāsānussatiñāṇa nhớ tiền kiếp; chuyện đi Chiang Mai gặp sơn dân Mu-sơ và lời nói "heo cũng ngon đủ rồi" của họ; mối quan hệ giữa Wat Sa Pathum và Wat Pa Sutthawat.

Phần 2 trong các giai thoại do Phra Ajahn Thongkham ghi lại đi sâu vào phong cách thuyết pháp của Phra Ajahn Mun, các sự kiện nội tâm và một loạt câu chuyện đời sống tăng đoàn quanh Ngài.
Giảng nhắc lại lão nhân (Tesn Sam Thao)
Theo lời Phra Ajahn Thongkham, giọng giảng của Luang Pu Mun không trầm cũng chẳng cao, tiếng to rõ vang vọng. Giờ đầu bình thường; qua 1 giờ giọng vang lớn lên; qua 2 giờ càng lớn thêm; nếu liên tục 3-4 giờ thì như gắn micro. Thông thường Ngài giảng 2 giờ. Trong các dịp đặc biệt - rằm tháng 3, rằm tháng 6, ngày bắt đầu/kết thúc an cư - ít nhất 4 đến 6 giờ.
Phra Ajahn Tesk từng kể: thời tại Chiang Mai, Ngài giảng tại Wat Chedi Luang từ 7 giờ tối đến 11 giờ trưa hôm sau mới rời pháp tòa xuống thọ trai. Sáng ra Ngài vẫn còn đang giảng; tiếng vang lớn. Dân đi chợ tưởng chư tăng cãi nhau, kéo vào - thấy Phra Ajahn Mun đang giảng liền ngồi nghe, quên cả việc đi chợ.
Năm cuối cùng, dịp Māgha Pūjā, Ngài giảng từ 7 giờ tối đến sáng. Ngài nói: "Ta sẽ giảng đây, giảng nhắc lại lão nhân nhé. Từ đây trở đi sẽ không còn giảng lâu như vậy nữa." Khi giảng, Ngài mở mắt, không nhai trầu, không hút thuốc, không uống nước. Chư tăng sa-di không ai dám đứng dậy, không ho hắng, không khạc nhổ.
Tiếp đón khách chư thiên
Khoảng giữa mùa đông năm PL. 2490 (1947), một đêm khoảng 7-8 giờ tối khi đang huấn thị đệ tử, Ngài ngưng một lát, cúi mặt xuống rồi khoát tay: "Nghỉ đi." Vài tỳ-kheo thắc mắc về cốc, quay lại nhìn cốc Ngài thấy sáng bừng - nhưng không phải ánh lửa, mà là ánh sáng trong như bông gòn nhưng trong suốt.
Sáng hôm sau, Ngài kể lại: đêm qua, sau khi giảng cho chư tăng một lát, có một vị thiên tên Pañcasikha đến báo: "Hôm nay sẽ có chư thiên từ tầng trời Tāvatiṃsa đến nghe Pháp ngài, kính thỉnh ngài chuẩn bị tiếp khách chư thiên." Nhóm này khoảng 500.000 vị, vừa từ cõi người Thái Lan ra đi, bắt đầu từ khi Phra Ajahn đến trú tại Nong Phue.
Người kể thắc mắc: chùa chỉ bấy nhiêu, làm sao chứa 500.000 vị? Ngài giải thích: chư thiên thân là thiên thể, "antalikkhe" - trong khoảng hư không vũ trụ - không có "đầy".
Họ xin nghe Sukka-dhamma-sutta. Ngài quán xét hiện lên câu: "Hiri-ottappa-sampannā... pe... santo sappurisā loke devadhammāti vuccare." Ngài thốt lên: "Ồ, thì ra Devadhamma này chính là Sukka-dhamma-sutta của chư thiên!" Khi Ngài định giảng, nghe tiếng Đế Thích (Sakka) ở phía sau xin nhắc nhở nhóm thiên trước; chủ tọa là Thánh nữ Sujātā. Ngài giảng bằng cách định tâm; nếu chư thiên hiểu thì đồng thanh sādhu. "Dạy chư thiên rất nhàn, không khó như dạy người."
Từ chối đăng ký kathina
Mùa Kathina năm PL. 2490 (1947), trưởng xã đem thư của quận trưởng huyện Phannanikhom đến đăng ký kathina. Ngài không nhận ngay, hỏi trước rồi khoát tay: "Đừng mang đến nộp ở chùa của tôi nhé. Trưởng xã đừng có làm bừa. Về nói với quận trưởng dùm rằng quận trưởng lấy quyền ở đâu, từ ai, mà cấm người đến làm công đức ở đây. Tôi không nhận. Ai muốn làm công đức cứ đến, không ai cấm."
Quận trưởng nhận lỗi, xin sửa lại - "ai khác đến cũng không cấm". Ngài mỉm cười: "Vị quận trưởng này nói năng dễ hiểu, sau này sẽ thành lớn." Quả đúng về sau ông được thăng đến chức Cục trưởng Cục Hành chính.
Năm đó cũng có đoàn kathina đặc biệt thứ 5 - chủ là Thâu Kê Hải, người Hoa buôn bán làng Kang Hung. Khi được hỏi có nghe pháp không, ông đáp: "Nghe thuyết Pháp làm gì? Bố thí là đã được phước rồi." Phra Ajahn mỉm cười: "Đúng rồi, đúng rồi. Thí chủ được phước ngay từ khi nghĩ đến việc làm vì có trí tuệ." Từ đó về sau Ngài thường lấy Thâu Kê Hải làm ví dụ.
(Theo chú giải, Phra Ajahn Mun thực ra không nhận như vải kathina mà nhận như vải pamsukūla, làm như vậy mỗi năm cho đến khi viên tịch. Ngài chưa từng thọ kathina và làm lễ kathina.)
Uy lực của jhāna - sét đánh không nghe
Một ngày mưa to, sét đánh xuống một cây Phluang lớn cách giảng đường không xa, cháy rụi từ ngọn đến rễ. Lúc đó Phra Ajahn đang nhập định - Ngài bảo không nghe tiếng. Chú sa-di Janday cầm ấm nước nóng đang đi cách 30 mét cũng không nghe. Riêng dân làng ngoài ruộng cách xa phải nằm rạp sát đất vì sợ tiếng sét. Phra Ajahn Thongkham nghĩ: do uy lực của jhāna của Ngài, nên chúng tôi không nghe.
Sách vở và quy định trong tự viện
Phra Ajahn đặc biệt tôn kính vua Rama IV và Đức Tăng Thống Krom Phraya Vachirananavorarot. Các bài Paritta, Mokkhupāya-gāthā, Caturārakkha-kammaṭṭhāna v.v... Ngài đều thuộc lòng cả Pali lẫn dịch.
Quy định: ai muốn ở tu học với cả hai Phra Ajahn (Sao và Mun) phải thuộc Navakovāda, 7 tích, 12 tích và Pāṭimokkha. Chậm nhất 3 năm; nếu không thuộc thì không cho ở chung. Sách phụ chỉ Vinaya-mukkha quyển 1, 2, 3 và Phật sử quyển 1, 2, 3 - ngoài ra cấm đọc.
Ví dụ Phra Ajahn Kongma Jirapuñño chuyển từ Mahānikāya sang Dhammayutika - Ngài bảo phải thuộc Pāṭimokkha mới cho. Ajahn Kongma không biết đọc chữ, học truyền miệng từng chữ, đồng thời tập đọc luôn - mất 3 năm mới tụng được. Phra Ajahn Chop Ṭhānasamo học Pāṭimokkha mất 8 năm. Ajahn Khamphong Tisso cũng không biết đọc chữ. Cả ba được Phra Ajahn Thongkham gọi là "Vīrapurisa" (dũng sĩ).
Về 10 loại thịt cấm, Ngài giải thích: thịt người không có giá trị, các bậc hiền trí quở trách. Các loài khác nguy hiểm: ăn thịt rắn, mùi rắn tỏa ra, rắn ngửi tưởng đồng loại trườn đến tìm.
Pubbenivāsānussatiñāṇa - nhớ tiền kiếp
Theo lời Phra Ajahn Thongkham được nghe Ngài kể về các tiền kiếp:
- Một kiếp tại Vân Nam - sinh trong gia đình bán vải trắng, có em gái là bà Num Chuvanon (người xây Wat Pa Sutthawat) ở kiếp này.
- Một kiếp tại Yonaka (nay là Chiang Tung, Myanmar) - gia đình thợ dệt chiếu lầm-phaen: Phra Ajahn Sao là thợ lớn; Phra Ajahn Mun là quản lý; Phra Dhammacedī (Jum Bandhulo) là người đi chợ.
- Một kiếp tại Kuru-raṭṭha (Ấn Độ) - Chao Khun Ubāli (Jan Sirichantho) là Phra Padumarājā, vua Kuru, là anh trai. Ngài là thừa tướng. Phra Ajahn Thet Thesaraṅsī là cháu ngỗ nghịch. Đã được đảnh lễ trước mặt Đức Phật và phát nguyện thành Phật Chánh giác.
- Một kiếp tại Lanka (Sri Lanka) - xuất gia làm tăng, dự kỳ kết tập Tipitaka lần thứ 4, ở chung với ngài Viriyaṅga (Phra Ajahn Viriyaṅga Sirindharo).
Từ Isan lên miền Bắc - sơn dân Mu-sơ
Khi lên miền Bắc, Phra Ajahn Mun gặp đủ tình huống. Đến chỗ trú đầu tiên, sáng đi khất thực, dân làng quây đống lửa hỏi: "Tu-jao đến làm chi?" "Ta đến xin cơm." Họ lấy gạo sống đổ vào bát; Ngài bảo: "Ta lấy cơm chín." Dần dần họ học cách cúng dường.
Câu chuyện vui nhất: dọc đường khất thực, ngọn bí đỏ mọc tươi tốt nhưng dân không ăn. Phra Ajahn Niam bảo: "Các ngươi nấu canh heo thì cho ngọn bí vào nữa." Họ đáp: "Heo cũng ngon đủ rồi, không cần cho ngọn bí nữa." Phra Ajahn Niam ngẩn người. Phra Ajahn Mun coi đây là chuyện rất buồn cười, mỗi lần kể lại đều cười lớn. (Ý người dân: bí có thể cho heo ăn, không cần phí cho người.)
Về sau Phra Ajahn Niam Jotiko viên tịch tại Wat Pa Ban Nong Phue, Phra Ajahn Mun tổ chức hỏa thiêu ngay trong ngày và tiết lộ với chư tăng rằng Phra Ajahn Niam đã chứng quả Tu-đà-hoàn và tái sinh vào Phạm thiên cõi Ābhassarā.
Tại làng Namon còn có thí chủ Phaeng (em trai Phra Ajahn Niam) - người siêng năng phụng sự, trộn thức ăn cho Phra Ajahn theo đúng tỷ lệ, có cá nhum 3 năm bỏ vào bát mỗi ngày 2 con. Có lần Phra Ajahn hỏi: "Phaeng à, việc tu thế nào?" Phaeng đáp: "Việc tu là việc tu đã sẵn, cả ngày lẫn đêm, nếu ta có sati." Phra Ajahn nói: "Đúng! Đó mới là người tu được."
Wat Sa Pathum và Wat Pa Sutthawat
Wat Pa Sutthawat là chùa do 3 chị em - mẹ Num, mẹ Nil, mẹ Luk-In - xây dựng dâng Phra Ajahn Sao và Phra Ajahn Mun. Trước Thế chiến thứ 2 kết thúc, mẹ Num xin một vị về làm trụ trì; Ngài nói thẳng: "Num này bận tâm chùa ngoài thôi, còn chùa bên trong tâm là sīla-samādhi-paññā thì như cái giỏ, không có trầu cau." Mẹ Num không giận, không chấp.
Sau Thế chiến, mẹ Num xin lại - muốn Phra Ajahn Fan vì là người vùng này. Phra Ajahn nói: "Chùa này là chi nhánh của Wat Sa Pathum" - và giao cho Phra Mahā Thongsuk Sujitto (người Saraburi) làm trụ trì Wat Pa Sutthawat. Phra Mahā van xin không muốn nhận, nhưng vẫn cúi đầu nhận vì lòng kính trọng. Kết quả công việc người Sakon Nakhon đều chấp nhận.
Phần 2 phác họa một Phra Ajahn Mun rất sống động: vị thầy thuyết pháp xuyên đêm khiến chợ vỡ, người chủ trì lễ tiếp 500.000 chư thiên, vị tăng từ chối thẳng đăng ký kathina hành chính, người thầy nghiêm khắc với Pāṭimokkha và là vị có pubbenivāsānussatiñāṇa ghi nhớ tiền kiếp - tất cả vẫn thiểu dục, vẫn cười lớn vì câu nói chất phác của sơn dân.
Cao tăng trong bài viết này
Ajahn Mun Bhuridatta
Xem tiểu sử đầy đủ và vật phẩm tiêu biểu