Mutelu Vietnam
Câu chuyện

Giai Thoại Phra Ajahn Mun Bhuridatta - Phần 8 Lời Cuối Cùng Và Đêm Viên Tịch

06/05/2026

Phần 8 - phần cuối loạt giai thoại của Phra Ajahn Thongkham - khép lại bộ hồi ức bằng những lời di huấn và đêm viên tịch của Phra Ajahn Mun. Bài tập hợp giấc mộng kiếm-giày tượng trưng paññā và samādhi; lời căn dặn cuối cùng dành riêng cho Phra Ajahn Thongkham phải bám chắc Tam Bảo và năm đề mục kammaṭṭhāna kesa, loma, nakha, danta, taco; bài pháp "Vị thế tối cao là nền tảng cho Đạo Quả Niết-bàn" thuyết tại Wat Sa Pathum; nguyên nhân làm hạn hán; rồi hành trình cáng người bệnh từ Wat Pa Nong Phue qua chùa Pa Klang Non Phu, lời giáo huấn cuối cho dân Phanna Nikhom và đêm Ngài xả ngũ uẩn lúc hơn 2 giờ sáng tại Wat Pa Sutthawat.

Giai Thoại Phra Ajahn Mun Bhuridatta - Phần 8 Lời Cuối Cùng Và Đêm Viên Tịch

Phần 8 - phần cuối trong bộ giai thoại do Phra Ajahn Thongkham ghi lại - khép lại bằng những lời di huấn cuối cùng và đêm viên tịch của Phra Ajahn Mun tại chùa Pa Sutthawat, Sakon Nakhon, năm PL. 2492 (1949).

Giấc mộng kiếm và đôi giày da

Phra Ajahn Mun kể: kể từ ngày xuất gia tỳ-kheo, mỗi lần nằm mộng thấy mình đi đâu đó, đều thấy hình tướng vị sư có thanh kiếm trên vai và đôi giày da dưới chân. Sau Ngài rút ra: "Kiếm là trí tuệ (paññā), đôi giày là định (samādhi). Khi tu hành, không có thầy hướng dẫn, vẫn có thể tự giải quyết các vấn đề một mình."

Ngài còn dạy: cúng dường vật bằng kim loại - bát, dao cạo, kim khâu y - tăng trưởng paññā-pāramī; cúng dường da - tọa cụ, giày da - tăng trưởng adhiṭṭhāna-pāramī. Khi ban tặng vật nhỏ cho đệ tử, Ngài thường lấy kim ra trao. Phra Ajahn Thongkham tự làm giày da nhỏ cúng dường Ngài; đôi lớn do tay Ajahn Wiriyang làm - hiện trưng bày tại Bảo tàng Phra Ajahn Mun ở Wat Pa Sutthawat.

Lời di huấn cho Phra Ajahn Thongkham

Phra Ajahn Mun là người thấu hiểu tính khí đệ tử. Ngài thường nói: "Chú Thongkham này là người có trí tuệ yếu và phúc duyên ít. Nếu các đệ tử khác như sắt đã luyện thành thanh, đập búa tám cân không hỏng, thì chú Thongkham như chất sắt còn lẫn đá khi mới hình thành, dùng búa đập sẽ vỡ vụn."

Khi bắt đầu trở bệnh, Ngài từ bi nói riêng với Phra Ajahn Thongkham:

"Thongkham ơi, ta cũng thương con, không có gì để cho, xin con hãy ghi nhớ, đây là lời dặn dành riêng cho con, lần cuối cùng. Khi ta chết rồi, sẽ không có ai dạy dỗ con như ta đã dạy dỗ. Mong con hãy thực hành theo lời dạy của Vị Hòa thượng Tế độ (Upajjhāya) đã dạy lần đầu tiên từ ngày thọ giới, tức là hãy đặt niềm tin (saddhā) vững chắc nơi Tam Bảo. Sau đó hãy quán xét Ngũ đề mục nghiệp xứ: kesa, loma, nakha, danta, taco (tóc, lông, móng, răng, da), hãy bám chắc như thế."

"Ngoài Đức Phật là bậc Đại Đạo sư thì có vị thầy thứ hai sau Đức Phật, chính là Hòa thượng Tế độ. Hòa thượng Tế độ sẽ dạy từ Quy y cho đến Niết-bàn." Đây là việc tích lũy phước báu ba-la-mật cao hơn mãi lên - kiếp này không thành thì kiếp sau cũng có thể chứng đắc.

Phra Ajahn Thongkham chợt nghĩ: "Ta tu hành như vậy, lỡ bị điên loạn gì đó thì làm sao?" Ngài bảo: "Đừng nghĩ thế, điên loạn gì thì không cần lo. Bởi vì nếu con chú tâm hướng ra ngoài, thì con sẽ bị điên. Nếu có gì xảy ra, con hãy chú tâm vào đây - tức là kesa, loma, nakha, danta, taco - nó sẽ tự giải quyết cho nó thôi."

Ngài còn dạy: nếu bám chắc lời dạy của Hòa thượng Tế độ, người có ba-la-mật cao thì 7 ngày hoặc 7 tháng phải chứng đắc một bậc thánh từ Tu-đà-hoàn trở lên; người trung bình không quá 7 năm; người chậm lắm là 16 năm.

"Aggam thanam manussesu" - bài pháp thuyết tại Wat Sa Pathum

Sau khi tu hành tại hang Sư Tử (hang Singto, hang Phai Khwang), Ngài về Bangkok nghỉ tại Wat Sa Pathum, có dịp đảnh lễ Thượng tọa Phra Upali Gunupamacariya. Khi trở về Wat Sa Pathum, Ngài quán xét về việc chỉ dạy hội chúng, có tuệ giác nổi lên:

"Aggaṃ ṭhānaṃ manussesu, maggaṃ satta visuddhiyā"

Nghĩa: "Vị thế tối cao có nơi loài người, chỉ có loài người mới đi theo con đường đến chỗ diệt khổ được."

Theo lời Ngài giảng: Người sẽ giác ngộ thành Phật, hay thành Thánh đệ tử cũng vậy, chỉ phải là loài người. Còn Thiên, Indra, Phạm thiên, và bốn cõi khổ thì không thể giác ngộ - vì thân chư Thiên quá tinh tế, thân bốn cõi khổ thì quá thô ráp. Loài người ở giữa ba cõi, đặc biệt cõi Dục, chính là "Vị thế tối cao" (Aggaṭṭhāna). Loài người ưu việt, có khả năng làm cả lokiya-paññā và lokuttara-paññā.

Ngài đặc biệt nhấn mạnh câu "Patirūpadesavāso ca... etam mangalam uttamam" (Mangala Sutta), giảng rằng Thái Lan là "Patirūpadesa" - nơi thích hợp - vì có đủ 4 đặc điểm: núi, sông, đồng rộng, thiếu nữ xinh.

Câu phaya cổ thi để thức tỉnh

Ngài thường xen các câu phaya (cổ thi) vào bài pháp - khi thấy người nghe sinh hỷ lạc mê mải đến quên khổ. Ví dụ:

"Tuk tang tae nai khan ha, hom ma khan si; tuk tang tae nai lok ni, hom khoy phu dio." ("Khổ từ trong ngũ uẩn, dồn vào tứ uẩn; khổ từ trong cõi đời này, dồn vào mỗi mình ta.")

Hay câu mô tả tham ái: "Tham ái thương con như dây buộc cổ, tham ái thương vợ chồng như vỏ cây buộc khuỷu tay, tham ái vật chất như vòng đeo vào chân, ngồi đầu cúi đến bí trí trong suy nghĩ, giống như khỉ mắc bẫy nhựa dính."

Nguyên nhân làm hạn hán

Năm đó mưa không thuận, ruộng cao héo chết. Có người hỏi Ngài: "Sao vậy thưa Anya Than?" ("Anya Than" là tiếng Sakon Nakhon, danh hiệu kính trọng tối cao - cả tỉnh mới có một vị được gọi.)

Ngài đáp: "Mưa không thuận, vì trí giả chán cai trị Pháp; người không kính người tu hành, vì người tu hành lìa học giới; thời gian trước đây chắc sẽ còn có nữa." Rồi: "Đấy, nghe không? Hãy nghe. Không muốn mưa hạn thì đừng để nên như thế."

Hành trình cuối từ Nong Phue về Sakon Nakhon

Sau khi mãn hạ năm PL. 2492, bệnh Ngài nặng dần. Các đệ tử cao cấp họp quyết định đưa Ngài về chùa Pa Sutthawat, Sakon Nakhon, ghé qua nghỉ tại chùa Pa Ban Phu (chùa Pa Klang Non Phu hiện nay) trước.

Đoàn cáng đi qua các làng Huai Bun, Na Lao, Kham Wae, Thit Thai, Khok Sao Khwan, Kut Kom, Phanna. Tối hôm trước mới thống nhất ngày, làm cáng xong, hôm sau đưa Ngài đi. 4 người khiêng cáng đàn ông khỏe mạnh. Đi chừng nửa cây số, người chờ thay phiên đã đòi giành. Cãi nhau suốt đường - Phra Ajahn Fan phải đi sát bên can ngăn.

Người kể hỏi: "Sao mới khiêng xa rồi mà lại bảo chưa đến 10 sào?" Anh khiêng từ làng Kham Wae bảo: "Khi vác cọc vác củi, khiêng cái này cái kia chỉ thấy nặng, nhưng khiêng Anya Than Mun nhẹ như chân không chạm đất."

Đến đoạn đường ruộng hẹp, người khiêng đứng lại sợ dẫm nát lúa. Chủ ruộng đứng trên bờ hô lên: "Lúa ơi lúa, bây giờ có chuyện cần rồi, xin dẫm xin đạp với nhé!" Rồi cùng nhau đi qua. Người kể đi sau không thấy lúa đổ một gốc nào.

11 ngày tại chùa Pa Ban Phu - lời giáo huấn cuối

Đến chùa Pa Ban Phu sau 16h. Tổng cộng 11 ngày, Ngài nghỉ tại đây - ngôi chùa do bà On Morarat xây dựng. Bà On là người có lòng tin, đã đảm nhận việc nhận gửi đồ từ Bangkok, Chiang Mai, Chantaburi gửi đến chùa Pa Ban Nong Phue suốt 5 năm. Người kể nghĩ Phra Ajahn có lẽ báo ân phần này.

Đêm thứ 11, khoảng 3 giờ sáng, Ngài có triệu chứng không khỏe nhiều. Ngài giơ tay phải lên, nói: "Đi Sakon, đi Sakon." Đến giờ khất thực, người kể xúc dâng Ngài. Muỗng đầu chưa nuốt được, ho liên tục. Muỗng thứ hai chưa kịp nhai lại ho - Ngài nhổ xuống ống nhổ rồi bảo: "Ta đã ăn 80 năm rồi. Ăn đủ rồi!"

Ngài bảo: "Lật ta sang hướng đó, phía cửa sổ phía nam." Rồi: "Mở cửa sổ ra." Khi mở, người đông nghịt cả khu vực, hàng trăm người, im lặng hoàn toàn, đều cúi đầu đảnh lễ.

Phra Ajahn nói:

"Quý Phật tử cùng đến đông quá, đến xem sư già ốm. Nhìn mặt xem, thế này đấy. Quý Phật tử ơi, không phân biệt sư hay người, sư cũng từ người mà ra, có thịt có da như nhau, người cũng ốm đau được, sư cũng ốm đau được. Cuối cùng là chết. Đã thấy như thế rồi, hãy cùng nhau mang đi quán xét. Sinh ra rồi thì già, bệnh, chết. Trước khi chết, bố thí chưa có thì hãy có đi, giới chưa từng giữ thì hãy giữ đi, thiền chưa từng tu thì hãy tu cho đủ đi, để không uổng phí cái duyên được sinh ra gặp Phật pháp, với lòng không phóng dật, như thế mới xứng với việc được sinh ra làm người. Chỉ thế thôi, nói nhiều mệt lắm."

Đây là lời giáo huấn Ngài để lại cho dân Phanna Nikhom. Kể từ đó cho đến phút cuối, Ngài không nói gì nữa.

Chuyến xe cuối về Wat Pa Sutthawat

Ông Wiset (con rể bà Num Chuwanon) đem cáng cứu thương đến đón. Ngài bảo: "Còn các thầy nữa? Đi thế nào?" Ông Wiset đáp: huyện trưởng đã chuẩn bị xe tải chở chục vị. Đoàn đi xe Land Rover; xe tải Dodge hoặc Fargo; gần 12 giờ đường đá sỏi mới đến Wat Pa Sutthawat, Ngài ngủ suốt đường.

Đặt Ngài lên kuti, người sắp chỗ đặt đầu Ngài hướng nam - bình thường khi ngủ Ngài hướng đầu về phía đông. Khoảng sau 1 giờ sáng, Ngài tỉnh dậy, chỉ "ư, ư" rồi giơ tay ra hiệu - không ai biết. Sa-di đi thỉnh các Trưởng lão: Thượng tọa Jum, Phra Ajahn Thet, Phra Ajahn Fan v.v...

Theo quan sát, Ngài sắp viên tịch nhưng muốn hướng đầu về phía đông. Ngài tự xoay được một chút. Ajahn La (Luang Pu La Khemapatto) hiểu được, lấy gối khẽ đẩy. Người kể đỡ chiếc gối Ngài đang gối nhưng thấy sẽ quấy rầy nên dừng lại. Ngài kiệt sức, không xoay tiếp được, rồi trầm tĩnh yên lặng. Hơi thở phải ghé tai mới nghe. Ajahn Wan bắt mạch ở chân - "mạch đập nhanh như rung, rung đến mức tận cùng rồi tắt đi nhẹ nhàng, với vẻ an tịnh."

Kết thúc kết quả của uẩn (khandhavipāka), giữa đông đảo đệ tử, vào khoảng sau 2 giờ sáng tại chùa Pa Sutthawat, huyện Mueang, tỉnh Sakon Nakhon. Để lại đằng sau vô số công hạnh.

Phra Ajahn Thongkham kết: hành trình dài trong Vaṭṭasaṃsāra của Phra Ajahn Mun đã kết thúc. Việc trình bày giai thoại từ quyển "Ramluek Wan Wan" suốt 3 tháng cũng nên kết thúc đúng lúc, vào ngày rằm tháng 7. Nguyện những điều đã trình bày sẽ là nguồn cảm hứng thôi thúc tinh tấn theo dấu chân Ngài đã dẫn đi.

"Tamahaṃ Saṅghaṃ Abhipūjayāmi" - Con xin tôn kính cúng dường tối thượng đối với Tăng đoàn ấy. "Tamahaṃ Saṅghaṃ Sirasā Namāmi" - Con xin cúi đầu đảnh lễ Tăng đoàn ấy bằng cả đầu lạy.

Cao tăng trong bài viết này

Ajahn Mun Bhuridatta

Xem tiểu sử đầy đủ và vật phẩm tiêu biểu

Xem bài viết →