Mutelu Vietnam
Câu chuyện

Luang Pu Waen làm đệ tử Luang Pu Mun – Chương về quê và quyết tâm trở lại

06/05/2026

Phần 4 của bộ tiểu sử kể lại bước ngoặt: Luang Pu Waen Sujinno và Luang Pu Tue Acalathammo chia tay tại Suwannakhet để mỗi người dâng thân tìm Pháp riêng. Luang Pu Waen vượt sông Mekong tìm Đại sư phụ Mun Bhuridatto tại rừng Dong Mafai, bản Kho. Chỉ sau lời dạy ngắn gọn của Luang Pu Mun, ngài về thăm quê hương Loei rồi rơi vào ốm bệnh, chứng kiến cảnh các bạn đồng tu hoàn tục, và quyết tâm dứt áo hành đầu đà – chuyến đi xa quê suốt hơn 50 năm.

Luang Pu Waen làm đệ tử Luang Pu Mun – Chương về quê và quyết tâm trở lại

Phần 4 của bộ tiểu sử Luang Pu Waen Sujinno đưa người đọc đến bước ngoặt quan trọng: gặp Đại sư phụ Mun Bhuridatto tại rừng Dong Mafai, một lần về quê đầy thử thách, và quyết định dứt áo lìa bà con để hành đầu đà thực sự.

Tách đường tu du phương

Theo lời kể của các vị thầy tổ, Luang Pu Waen và Luang Pu Tue cùng nhau đi du phương (thudong) cho đến khi tới thành phố Suwannakhet (Savannakhet) thì hai ngài thỏa thuận: từ nay mỗi người sẽ hy sinh thân mình để đổi lấy Pháp cho rõ trắng rõ đen, đi du phương một mình, không phải dựa cậy vào nhau nữa.

Luang Pu Tue đi men theo bờ sông hướng lên Vientiane một mình. Còn Luang Pu Waen quay ngược trở lại, vượt sông Mekong về phía Thái Lan để đi tìm Luang Pu Mun – vị Đại sư phụ (Phra Ajahn Yai) – theo đúng ý nguyện ban đầu.

Dâng mình làm đệ tử của Luang Pu Mun

Luang Pu Waen dò hỏi và cuối cùng được biết Đại sư phụ đang trú tại huyện Ban Phue, tỉnh Udon Thani, ở rừng Dong Mafai, bản Kho. Ngài liền vào đảnh lễ và dâng thân làm đệ tử.

Người biên soạn ghi chú: khu trú xứ rừng Dong Mafai chính xác là Chùa Pa Saravari, ấp 3, bản Kho, xã Ban Phue, huyện Ban Phue, tỉnh Udon Thani – khác với Chùa Ban Kho ở ấp 7 do Phra Ajahn Thun Khippapañño xây dựng năm PL. 2528 (1985).

Câu đầu tiên Luang Pu Mun hỏi là: "Từ đâu đến?" Khi ngài thưa: "Con từ Ubon đến ạ." Luang Pu Mun liền nói câu thứ hai – câu ấy có nghĩa là ngài lập tức bắt đầu dạy dỗ: "Vậy à! Từ nay hãy hành thiền (phavana). Còn kiến thức đã học, tạm cất vào tủ trước đã."

Lời ngắn gọn ấy mang ý nghĩa vô cùng sâu rộng đối với Luang Pu Waen, vì đó chính là điều ngài thật sự mong muốn. Ngài vô cùng hoan hỷ – tâm nguyện đã đạt được mà không cần phải mở miệng xin.

Đành lòng trở về quê hương

Khi Luang Pu Waen lần đầu dâng thân làm đệ tử Luang Pu Mun tại rừng Dong Mafai, lúc đó là năm PL. 2461 (1918), Luang Pu Waen 31 tuổi, có 11 hạ trong Mahānikāya. Ngài bắt đầu tập thiền, tâm bắt đầu an tịnh mát mẻ, bắt đầu tin chắc đây chính là con đường giúp ngài giữ thân sa-môn đến suốt đời.

Đang trong lúc vui mừng vì gặp được thầy đúng ý nguyện, mới được 4 ngày thì đến ngày thứ 5, chú dượng và anh rể từ tỉnh Loei tìm đến thỉnh ngài về Loei. Lý do: cha mẹ, anh chị em và họ hàng mong muốn được gặp mặt sau hơn 15 năm xa nhà.

Luang Pu suy xét, đồng ý về thăm. Chiều tối ngài vào đảnh lễ thưa với Đại sư phụ. Luang Pu Mun cho phép và dặn: "Vậy à! Đi rồi phải mau trở lại, đừng ở lâu. Ở lâu không được, coi chừng bị họ bẫy đấy, bẫy rồi thì bị trói lại, lúc đó vùng vẫy không thoát."

Về thăm quê hương Loei

Khi về đến quê hương ở Loei, Luang Pu trú tại Chùa Pho Chai – chính ngôi chùa ngài đã xuất gia sa-di lần đầu. Tin lan truyền rất nhanh: "Sư Waen, vị đi học ở Ubon, đã trở về nhà rồi!"

Bà con họ hàng và những người quen thân đua nhau đến thăm không dứt, kể cả từ các bản khác cũng đến đông đảo. Đây là sự kiện lần đầu tiên ở địa phương: một vị sư trong bản đi học nơi xa hơn 15 năm mới trở về. Vì các sư chú trong vùng đó hầu hết chỉ xuất gia ngắn hạn rồi hoàn tục.

Một số Phật tử thỉnh Luang Pu ở lại an cư, nhưng ngài chỉ nói: "Thỉnh bần tăng ở lại thì ở cũng được, nhưng bao nhiêu tháng, bao nhiêu ngày, bao nhiêu năm thì không phải đếm. Nếu thấy bần tăng còn ở thì biết là còn, nhưng nếu không thấy nữa thì biết là đã đi rồi. Nếu bắt ấn định bao lâu thế này thế nọ thì không ấn định được."

Dân làng đến xin nối giới – và đi bắt cá

Trong thời gian Luang Pu trú tại Chùa Pho Chai, đến ngày trai giới, chư tỳ-kheo sa-di và Phật tử thường mang hoa nhang đèn đến cúng dường và xin nối giới. Họ đều công nhận giới ngài thanh tịnh.

Việc nối giới của các nam nữ cư sĩ ấy trông rất kỳ lạ: khi mang hoa nhang đèn đến cúng dường để thọ Ngũ giới, Bát giới, giới uposatha tùy ý mỗi người, họ đều mặc đồ trắng, khoác khăn trắng đến đầy đủ, dáng vẻ nghiêm trang trật tự rất đẹp. Thế nhưng khi thọ giới xong, ai về nhà nấy, rồi vác cái đó, cái chài, cái vợt, cái nơm ra khỏi nhà đi bắt cá thành từng nhóm.

Luang Pu nói khi suy xét thì thấy giống như con cò giữ giới – tức là giới cũng giữ mà cá cũng ăn. Ngay cả thời Đức Phật, Ngài cũng chưa thể điều phục được một số hạng người. Luang Pu đành để họ đi theo nghiệp quả.

Luang Pu lâm bệnh tại chùa quê

Người đến thăm rất đông, đến cả ngày giống như chùa có lễ hội. Luang Pu phải tiếp đón Phật tử, trò chuyện Pháp đến nỗi không có thời gian nghỉ ngơi. Thân thể mệt mỏi kiệt quệ, cuối cùng ngài lâm bệnh.

Khi Luang Pu lâm bệnh, bà con thân thích, những người đã thỉnh ngài ở lại an cư, lại lảng tránh, không hề chăm sóc. Ngài tự cảnh tỉnh: "Ta đến đây là do được thỉnh mời. Những người này phần lớn là bà con, là người thân quen của ta. Nhưng khi ta bệnh, họ lại bỏ rơi, coi ta như người xa lạ không quen biết." Ngài thấm thía lời Đức Phật rằng phải tự nương tựa chính mình, và Tam Bảo mới là chỗ nương tựa tối thượng.

Lý do thứ hai tự cảnh tỉnh

Luang Pu xét thấy tại Chùa Pho Chai, những vị tỳ-kheo sa-di từng cùng xuất gia đã hoàn tục hết, chỉ còn vỏn vẹn 2 vị sư thường trú. Ngài tự nhủ: "Nếu ta ở lại đây tiếp, tâm ta có thể không vững, có thể sẽ phải hoàn tục cũng nên. Trước khi ta đi, thầy đã căn dặn rồi: đừng ở lâu, hãy mau trở lại để hành thiền."

Đang lúc tâm rối ren, lời dặn của mẹ và bà ngoại lại vang lên: "Nếu đã xuất gia thì hãy chết với tấm cà-sa vàng, đừng có hoàn tục ra lập gia đình có vợ có con nghe chưa!" Luang Pu liền quyết định dứt khoát, phải rời khỏi bản ngay khi thân thể bình phục.

Hồi tưởng về Ubon

Trong lúc trú tại Chùa Pho Chai, ngài thường nghe ngóng tin tức từ Ubon: vị Thầy tế độ, các vị Phra Ajahn tụng tác pháp đều đã hoàn tục cả. Hai người bạn đồng Pháp là sư Lao và sư Hiang cũng vậy.

Luang Pu hồi tưởng: những tập kinh sách ngài đã chép có rất nhiều, khi rời đi không giao phó cho thầy. Có ý nghĩ: trở lại Ubon để thu xếp chuyện kinh sách. Nhưng ý nghĩ khác phản bác: ở Ubon thì thầy tế độ, thầy giáo và bạn đã hoàn tục hết, Phra Ajahn Singh cũng không còn ở đó. Trở về để làm gì?

Quyết định sau khi nhận thư

Khoảng 1 tháng sau, bệnh thuyên giảm. Ngài nhận được thư của thầy Iam – vị giáo thọ từng dạy ở Ubon – bảo ngài quay về Ubon để học tiếp cho xong, rồi trở về dạy học tại quê nhà.

Khi ôn lại các sự kiện, Luang Pu đi đến quyết định: "Việc trở về Ubon để học tiếp chắc không mang lại lợi ích gì, nhưng việc ở lại Chùa Pho Chai, bản Na Pong này cũng chẳng đem lại lợi ích gì cả. Từ nay về sau, ta sẽ không dính líu gì đến hội chúng nữa, sẽ quay lại tìm Đại sư phụ Mun để tập thiền, theo đúng tâm nguyện ban đầu."

Dứt khoát lìa bà con thân thuộc

Suốt 1 tháng tại chùa quê, Luang Pu cảm thấy phiền lòng khi bà con đi lại quấy rầy, không có thời gian hành thiền an tịnh. Ngài tự nhủ: bản thân đã chọn con đường sống đời sa-môn, tự biến mình thành người không nhà (anāgārika), ưa thích sự tịnh cư theo rừng theo núi. Đã đến lúc phải dứt khoát lìa bỏ để đi tìm vimuttisukha.

Phật tử khuyên can vì thấy đời sư du phương chỉ toàn khổ cực, đói khát ở trong rừng, nằm dưới gốc cây, mà rừng đầy thú dữ. Nhưng Luang Pu thuyết pháp giảng giải đến khi Phật tử mềm lòng, chỉ còn biết tùy hỷ chúc phúc.

Cuộc ra đi này dài rất lâu, không ai có tin tức gì trong suốt hơn 50 năm. Mãi đến cuối năm PL. 2514 (1971) khi báo chí đăng tải tiểu sử và những điều kỳ diệu của Luang Pu Waen – bậc thiền sư Vipassanā cao niên của Chùa Doi Mae Pang, người ta mới nghe lại tin tức về ngài.

Trở lại tìm Đại sư phụ

Sáng hôm sau ngày quyết định, sau khi đi khất thực và thọ thực xong, ngài thu xếp các vật dụng, vác bát, vác dù (klot), khoác tay nải, một tay xách bình nước, lên đường rời Chùa Pho Chai hướng về rừng Dong Mafai.

Khi trở về đến trú xứ của thầy, ngài gặp các bạn đồng Pháp khác cũng vào xin tu học. Là người mới đến, Luang Pu chưa vào hầu cận gần gũi. Hơn nữa, Luang Pu Mun không cho người ta dễ dàng vào gần ngài. Sau khi chỉ dạy các pháp thực hành, các đệ tử phải tản đi tìm chỗ vắng vẻ để hành thiền. Đến ngày uposatha thì tụ lại làm lễ, nghe tụng Pāṭimokkha và nhận sự huấn luyện từ Đại sư phụ.

"Hãy quyết tâm hành thiền, chớ có dể duôi"

Đôi khi Luang Pu Mun bảo vị đệ tử đi đến trú ở nơi như thế này, vị khác đến nơi như thế kia. Mỗi địa điểm ngài chỉ đều là chỗ có nguy hiểm bao quanh tứ phía: nơi hổ ở, nơi hổ đi qua lại. Luang Pu Mun thường nhấn mạnh: "Hãy quyết tâm hành thiền, chớ có dể duôi, phải có chánh niệm (sati) mọi lúc, đừng mải mê nghỉ ngơi ngủ nghê quá nhiều."

Luang Pu Waen kể: đi hành thiền ở những chỗ nguy hiểm như vậy khiến tâm gom lại rất nhanh, chánh niệm cũng vững chắc. Nếu ngày nào tứ đại không rối loạn, tâm an tịnh tốt, ngài ngồi hay đi kinh hành (caṅkama) suốt cả đêm, sự mệt mỏi cũng không hiện ra.

Lúc bệnh đau phải càng tăng tốc hành thiền

Trở ngại quan trọng cho hành thiền lúc ấy là sốt rừng (sốt rét), mỗi lần bị là nhiều ngày, vì không có thuốc chữa. Khi cơn sốt ập đến, phải nương vào nội lực tâm – tăng tốc hành thiền, quán chiếu cho đến khi cơn sốt giảm.

Phần lớn cơn sốt không hết hẳn, chỉ giãn ra khoảng cách 3 ngày hoặc 5 ngày, rồi lại bị – là sốt rừng mãn tính. Với vị sư đầu-đà quyết tâm tìm chân lý, không chán nản, sẵn sàng dâng thân chết đi: nếu bệnh không khỏi thì chết, kiếp này không thành thì đời sau tiếp tục hành thiền.

Việc thuộc hai hệ phái khác nhau

Một vấn đề làm Luang Pu Waen không thoải mái: ngài vẫn còn là sư phái Mahānikāya, chưa chuyển (ñatti) sang Dhammayuttika. Đến ngày uposatha, ngài và các sư Mahānikāya khác không thể tham gia Tăng sự nghe tụng Pāṭimokkha, phải đi ra khỏi giới tuyến. Chỉ khi nghi thức kết thúc, mới được vào trình pārisuddhi.

Các đệ tử Mahānikāya đến tu học hành thiền với Luang Pu Mun thời đó có nhiều vị. Khi thấy bất tiện, họ vào đảnh lễ xin phép chuyển ñatti. Có vị Luang Pu Mun cho phép, có vị thì không. Lý do: "Nếu tất cả đều đến ñatti làm sư Dhammayut hết, thì trong phái Mahānikāya sẽ ai chỉ dẫn việc hành thiền? Đạo quả không phải tùy thuộc vào hệ phái, mà tùy thuộc vào việc hành trì tốt."

Các đệ tử Mahānikāya nổi danh

Các đệ tử Mahānikāya lớp đầu gồm: Phra Ajahn Thongrat Kantasīlo chùa Pa Ban Khum, xã Khok Sawang, huyện Samrong, tỉnh Ubon Ratchathani. Ngài viên tịch ngày 21 tháng 9 PL. 2499 (1956), trụ thế 68 năm, hạ lạp 42. Luang Pu Cha Subhaddo từng nói: "Phra Ajahn Thongrat là bậc sống trong sáng sạch sẽ cho đến tận giây phút cuối cùng. Khi ngài viên tịch, tài sản trong tay nải của ngài chỉ có một con dao cạo duy nhất mà thôi."

Luang Pu Cha Subhaddo Chùa Nong Pa Pong, huyện Warin Chamrap, tỉnh Ubon Ratchathani, cũng là đệ tử Mahānikāya nổi danh ở thế hệ kế tiếp. Khi Luang Pu Mun đi trú miền Bắc, các đệ tử Mahānikāya nổi tiếng còn có Luang Pu Khamsaen Kuṇālaṅkaro chùa Don Mun (Sankhong Mai), huyện San Kamphaeng, Chiang Mai và Luang Pu Khamphan Subhaddo chùa San Pong, huyện Mae Rim, Chiang Mai.

Lời dặn ngắn gọn của Luang Pu Mun – "đi rồi phải mau trở lại" – đã được Luang Pu Waen giữ trọn. Sau cuộc về thăm quê đầy thử thách, ngài bước hẳn vào con đường tu rừng, nơi sốt rét và hổ báo trở thành "thầy" rèn chánh niệm cho ngài suốt đời.

Cao tăng trong bài viết này

Luang Pu Waen Sujinno

Xem tiểu sử đầy đủ và vật phẩm tiêu biểu

Xem bài viết →