Luang Pu Waen hành cước Miến Điện và Ấn Độ – Tay không qua biên
06/05/2026
Năm PL. 2464 (1921), Luang Pu Waen Sujinno cùng Luang Pu Tue Acalathammo vượt sông Moei tại Mae Sot sang Miến Điện, rồi qua tàu thủy đến Mawlamyaing, sang Ấn Độ đảnh lễ các Thánh tích Varanasi, lên Nepal và đảo Sri Lanka. Sau đó hai ngài đi tiếp đến Kengtung, Saenwi, Fifo, Nongsae. Chương 8 cũng kể về Phra Ubali Khunupamacariya với câu chuyện "năm pāṭimokkha" và cành cây chà răng từ gỗ đàn hương, dẫn đến chuyến lên Chiang Mai trùng tu chùa Chedi Luang.

Năm PL. 2464 (1921), với chiếc bát, chiếc dù du tăng và bộ lọc nước, Luang Pu Waen Sujinno cùng Luang Pu Tue Acalathammo bước qua biên giới Thái – Miến để bắt đầu một chuyến đi gần như bất khả ngày nay: đi bộ và đi tàu sang Miến Điện, Ấn Độ, Nepal và đảo Sri Lanka. Chương 8 ghi lại chuyến hành cước này, đồng thời lưu giữ những giai thoại quý về Phra Ubali Khunupamacāriya.
Hành cước vào đất Miến Điện
Vào năm PL. 2464 (1921), Luang Pu Waen cùng Luang Pu Tue khởi hành rời Thái Lan qua cửa khẩu Mae Sot, tỉnh Tak, vượt sông Moei lên bờ Miến Điện. Luang Pu hỏi nhân viên Miến Điện về việc vào nước, nhưng nói chuyện không hiểu nhau. Nhân viên nói: "Kek sa ma si bu" – có nghĩa "không sao cả", tức là cho phép hai vị Luang Pu đi vào.
Luang Pu đi xuyên rừng núi đến một thành phố tên Khlukkhlik, nghỉ 1 đêm. Sáng hôm sau khất thực, dùng bữa xong đi ra bến tàu, lên tàu thủy đi Mawlamyaing (Moulmein). Tàu đến Mawlamyaing khoảng 7 giờ. Hôm sau, lên tàu qua đò sang cập bờ tại Mottama (Martaban).
Tại Mottama có một ngọn núi gọi là Doi Si Kutra, trên đỉnh có bảo tháp, dân chúng lên đảnh lễ rất đông. Khi lên tới đỉnh núi sẽ nhìn thấy gần như toàn cảnh thành Mottama. Luang Pu nói: thành Mawlamyaing là một thành phố cảng, giống như Samut Prakan của chúng ta.
Việc khất thực tại Miến Điện
Nước Miến Điện có nhiều sư tăng nhưng khất thực không đủ dùng. Người muốn cúng dường không ra khỏi nhà để bỏ theo ngoài đường như xứ Thái – họ chuẩn bị thức ăn bỏ bát sẵn ở trên nhà, các sư phải lên nhà nhận bát.
Ban đầu, Luang Pu không biết phong tục, nên đi khất thực mà không có gì dùng. Hôm sau, một vị sư Thai Yai (Shan) thấy vậy, đến hỏi: "Chao pun dai sapi som mai" (Ngài có nhận được thức cúng không?). Luang Pu đáp: không được gì cả. Vị sư ấy dẫn đi, lên nhà, mới biết người ta cúng dường trên nhà.
Thức ăn bỏ bát cũng không có gì nhiều: 1 thìa cơm với 1 thìa canh đậu. Đi khất thực 10 nhà cũng không đủ cơm dùng, phải đi rất xa. Có ngày khi đói lên và thấy vắng người thì dừng dùng ngay trước, rồi đi tiếp. Về nước uống, họ làm vòi nước công cộng dọc theo đường phố.
Luang Pu nói: "Việc tu hành tại nước Miến Điện, nếu định trụ lại để đắc đạo quả thì khó ở được, vì thức ăn không đủ."
Tại Mottama, Luang Pu gặp một vị sư Khmer đã sống ở Miến Điện nhiều năm. Vị ấy nói: khất thực ở đây khó khăn lắm, không bằng Thái Lan – ở Thái khất thực về dùng còn dư cho thú nuôi, ở đây ngay cả nuôi bản thân cũng suýt không xong.
Nói về sư Miến Điện
Luang Pu nói: các sư Miến Điện khi đàm đạo, thường nói chuyện bằng Siêu thế tâm (lokuttara-citta), Siêu thế đạo, Siêu thế quả – tức thuộc bản đồ (mātikā) từ A-tỳ-đạt-ma (Abhidhamma) mang ra trò chuyện, vì trong nước họ được dạy về bản đồ.
"Các vị sư ấy học chỉ biết bản đồ, không được dạy đi xem thực địa như các vị sư hành thiền (kammaṭṭhāna) chúng ta." Người biên soạn ghi chú: việc nói có thể nói đến Niết-bàn suôn sẻ, nhưng việc hành trì có làm được hay không lại là chuyện khác. Việc học Phật pháp cần có pariyatti, paṭipatti, paṭivedha.
Hành cước vào đất Ấn Độ
Luang Pu Waen cùng Luang Pu Tue sau khi trú tại Doi Si Kutra một thời gian, lên tàu qua đò trở lại Mawlamyaing, nghỉ 3 ngày, rồi lên tàu đi Kolkata (Calcutta), Ấn Độ. Lên tàu hỏa đi Varanasi, đảnh lễ các Thánh tích (Saṃvejaniyasthāna) và các di tích linh thiêng khác.
Theo lời kể của Luang Por Plian Paññapadipo, Luang Pu Waen cùng Luang Pu Tue đã đi Nepal phía bắc Ấn Độ, và phía nam, các ngài đã lên thuyền buồm vượt sang đảo Sri Lanka.
Luang Pu nói: việc du hành tại Ấn Độ không thể ở lâu được, vì có vấn đề do thức ăn và việc khất thực. Nên phải trở về an cư tại Thái Lan.
Trở về Thái Lan
Khi trở về, Luang Pu đi theo đường cũ – từ Ấn Độ, lên tàu thủy từ Kolkata về Mawlamyaing, rồi đi tàu tiếp về bến Khlikkhlik. Sau đó đi bộ trở về Thái Lan, vượt sông Moei vào lại đất Thái tại Mae Sot.
Luang Pu nghỉ tại Mae Sot đến khi có sức, rồi đi thudong hành thiền ở huyện Sam Ngao, tỉnh Tak, nhưng không an cư. Dân làng vùng đó nuôi chó rất dữ. Khi ngài đi khất thực, có ngày bị chó cắn. Chính ở tỉnh Tak này, Luang Pu đã bị chó cắn vào chân gây vết thương viêm mãn tính, để lại sẹo suốt đời.
Hành cước đến Kengtung, Kengrung
Luang Pu Waen cùng pháp hữu Luang Pu Tue Acaladhammo, thời còn là các vị tăng trẻ, rất thích đi thudong tìm chốn thanh vắng ở khắp nơi – cả trong và ngoài nước. Người ta nói rằng hai vị là hai vị đi thudong nhiều nhất trong số các vị sư thudong; nếu gộp hết thời gian, gần 50 năm – hơn nửa cuộc đời xuất gia.
Luang Pu nói: việc đi đường xa thời xưa không phải lo xe cộ thuyền bè, vì phương tiện hiện đại chưa có. Cách đi chỉ là đi bộ. Có bậc thầy nói vui: việc đi đường của các vị sư thudong thời xưa dùng xe hai loại, tức xe hiệu "Mô-tơ chân" và xe hiệu "Austin" (tức nai nịt chân, đi bộ).
Sau khi mãn hạ (người biên soạn ước tính có lẽ là PL. 2465 (1922), cuối tháng 10), hai vị đã đi thudong đến Kengtung, Kengrung. Đi khỏi đất Thái qua cửa khẩu huyện Mae Sai, tỉnh Chiang Rai, vượt biên sang Miến Điện. Đi theo đường lộ xe bò, có chỗ đi tắt theo rừng núi.
Thành Kengtung nằm trong thung lũng, có núi non bao quanh. Cư dân phần lớn là người Thai Yai (Shan), có một số người Miến Điện. Dòng dõi nhà vua xứ Kengtung rất kính tín Phra Ubali Khunupamajarn. Các vị tỳ kheo sa-di hành trì theo giới luật khá tốt, vì đã được Phra Ubali Khunupamajarn chỉ dạy khi ngài đi an cư tại Kengtung. Khí hậu mùa đông khá lạnh. Lần đó, Luang Pu không an cư.
Hành cước đến Saenwi, Fifo, Nongsae
Từ Kengtung, Luang Pu tiếp tục đi về phía bắc. Địa thế là rừng rậm, có rừng thưa xen kẽ, có suối nước và thú rừng các loại. Ban đêm khí trời rất lạnh.
Khi ra khỏi vùng Kengtung đi lên phía bắc, người dân là các sắc tộc miền núi khác nhau. Sắc tộc có trình độ phát triển hơn các sắc tộc khác là người Hán Ho (Chin Ho). Luang Pu hành cước lên đến các thành phố Saenwi, Fifo và Nongsae – nơi ở của người Hán Ho. Một số vùng đi qua có dòng Mekong chảy qua, địa thế là vùng bình nguyên trong thung lũng.
Gần đến mùa an cư, tức khoảng tháng 5 và tháng 6, mưa rất nhiều. Hai vị Luang Pu liền khởi hành trở về Thái Lan.
Nói về Phra Ubali Khunupamajarn
Luang Pu Waen rất kính trọng và thân quen với Phra Ubali Khunupamajarn (Chan Sirichantho), trụ trì Wat Boromniwat Woraviharn, từ năm PL. 2464 (1921). Mỗi khi Phra Ubali lên miền Isan, Luang Pu đều tìm cơ hội đến đảnh lễ.
Một lần, phủ Hoàng cung thỉnh các bậc đại đức vào cúng trai tăng trong Hoàng cung, có Somdet Phra Mahasamananchao Krom Phraya Wachirayanwarorot làm Chủ tọa. Sau khi chư tăng thọ trai, Đức Vua nêu câu hỏi: "Tỳ kheo dùng thực phẩm vào thời phi thời, tức từ mặt trời quá giữa trưa cho đến bình minh ngày mới, phạm vào giới Pācittiya. Vậy nếu vị tỳ kheo đang ở nước ngoài, thì phải xác định cái thời giữa trưa đó thế nào?"
Đức Vua hỏi từng vị một. Các bậc đại đức dâng tâu mỗi vị một ý, hoặc vòng vo không dám quyết định. Khi đến lượt Phra Ubali, Đức Vua hỏi: "Thầy Ubali nói thế nào?" Phra Ubali dâng tâu: "Nên lấy theo thời khắc của địa phương nơi mình đến nương tựa ở." Đức Vua quay sang Somdet Phra Mahasamananchao: "Thế nào?" Somdet dâng tâu ngắn gọn: "Hợp với lý lẽ." Đức Vua không hỏi về vấn đề này nữa.
Năm pāṭimokkha
Phra Ubali Khunupamajarn (về sau là Hòa thượng truyền giới của Luang Pu Waen cùng Luang Pu Tue khi tái thọ giới theo phái Thammayut) từng bảo Luang Pu học thuộc pāṭimokkha. Luang Pu thưa: "Tôi tuổi đã thế này rồi, trí nhớ gì cũng không tốt. Tôi xin gìn giữ năm pāṭimokkha thì đủ."
Phra Ubali hỏi: năm pāṭimokkha là gì?
Luang Pu thưa: "Mắt cũng là một pāṭimokkha, tai cũng là một pāṭimokkha, mũi cũng là một pāṭimokkha, lưỡi cũng là một pāṭimokkha, và thân cũng là một pāṭimokkha. Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân – năm cái này chính là pāṭimokkha."
Phra Ubali nói: "À, đúng rồi. Người xuất gia ta nếu hành trì năm căn (indriya) cho thành pāṭimokkha được, người ấy sẽ tiến bộ trong pháp và luật của Đức Phật. Nếu giữ năm pāṭimokkha đó rồi, không cần học thuộc pāṭimokkha cũng được."
Vì vậy Luang Pu Waen Sujinno không học thuộc pāṭimokkha. Nhưng ngài từng học qua môn Mūlakaccāyana, khi nêu giới luật điều nào ra, đều nói được rất chính xác cả tiếng Pali lẫn tiếng Thái.
Kể chuyện về cành cây chà răng
Thời Somdet Phra Mahasamananchao Krom Phraya Wachirayanwarorot đang soạn bộ Vinayamukha, ngài giải thích đến điều giới nói về cành cây chà răng (dantaponā), bỗng khởi lên thắc mắc là gỗ loại gì, hình dạng ra sao. Ngài hỏi tỳ kheo sa-di, ai cũng dâng tâu một kiểu, không khớp nhau.
Liền cho đi thỉnh Phra Ubali từ Wat Boromniwat đến yết kiến. Phra Ubali dâng tâu: "Tôi đã từng thấy từng dùng tại miền Isan. Các bậc trưởng lão trong dòng phái Phra Ajahn Mun dùng phổ biến. Làm từ hai loại gỗ: một là gỗ Kotha (hoặc Kantha), loại tốt làm từ gỗ đàn hương thơm (chan hom). Một đầu đập nát thành sợi tơ nhỏ dùng chà răng, đầu kia vót nhọn dùng xỉa răng. Nếu muốn cạo lưỡi, chẻ ra thành mảnh mỏng. Gỗ Kotha khi nhai có vị đắng nhẹ, chống mùi hôi miệng tốt, lại trừ đàm dãi."
Somdet ban lệnh cho Phra Ubali tìm cho ngài xem. Phra Ubali nhắn về Ubon Ratchathani làm cành cây chà răng từ gỗ đàn hương thơm và gỗ Kotha gửi xuống Bangkok, rồi đem dâng lên Somdet. Khi Somdet thử dùng, liền khen: "Các vị tăng ở miền Isan thật hiểu biết giới luật rõ thật."
Thỉnh Phra Ubali lên trú tại Chiang Mai
Phra Ubali từng đến an cư tại Kengtung, đã thuyết pháp hóa độ chúa nước Kengtung đến mức ngài phát tín tâm, dâng mình làm đệ tử hộ độ. Hiện nay, dòng dõi hoàng gia Kengtung, các bậc quý tộc trưởng, vẫn còn hành trì đạo pháp.
Khi Phra Ubali từ Kengtung trở về, ngài đã lên trú hành thiền tại Doi Suthep, Chiang Mai. Vừa đúng lúc đó, Wat Chedi Luang trong thành Chiang Mai đang bị suy tàn, không tìm được vị sư trụ cột. Người dân xa lánh chùa vì các tỳ kheo sa-di có hành xử không thích đáng.
Bên quan chức địa phương có Chao Kaew Nawarat – chúa thành Chiang Mai – cùng Chaophraya Mukhamontri (Arp Paorohit) – Tổng đốc mandala Phayap – đã bàn nhau thỉnh Phra Ubali Khunupamajarn từ Wat Boromniwat lên trú tại Wat Chedi Luang để cải thiện chùa. Vừa nghe tin Phra Ubali đang ẩn tu tại Doi Suthep, họ liền đến đảnh lễ và trình bày. Phra Ubali chưa nhận lời, nói rằng xin để suy xét khi trở về Bangkok.
Phra Ubali nhận lời thỉnh
Khoảng tháng 6 năm PL. 2470 (1927), bên Chiang Mai – do Chao Kaew Nawarat dẫn đoàn – đã thân hành đến thỉnh Phra Ubali một cách chính thức. Việc thỉnh cầu thành công.
Trong chuyến đi đến Chiang Mai, Phra Ubali chọn lựa người đi theo rất cẩn trọng. Trong giai đoạn đó, Luang Pu Mun Phurithatto đã vào Bangkok, có ý định ẩn dật tìm chốn thanh vắng, đi một mình, và đã giao cho Luang Pu Singh Khantayakhamo quản lý tăng đoàn miền Isan thay ngài. Phra Ubali liền xin Luang Pu Mun đến an cư tại Chiang Mai cùng.
Một đệ tử khác được chọn đi cùng là Luang Pu Waen Sujinno – ngài rất hoan hỉ vì không ngờ được sự tin tưởng từ các bậc thầy tổ đến mức đó. Luang Pu nói: việc đi xe lửa lên Chiang Mai thời đó không thuận tiện như thời nay, phải mất thời gian dài, nhưng không có cách đi nào khác thuận tiện hơn.
Một chương đời khác đang mở ra: lần đầu Luang Pu Waen đặt chân lên đất Lanna, theo chân hai bậc thầy tổ vào ngôi cổ tự đang chờ được hồi sinh.
Cao tăng trong bài viết này
Luang Pu Waen Sujinno
Xem tiểu sử đầy đủ và vật phẩm tiêu biểu