Luang Pu Waen và người thầy đầu tiên Phra Ajahn Singh Khantayakamo
06/05/2026
Chương 2 của bộ tiểu sử kể về Phra Ajahn Singh Khantayakamo – vị thầy đầu tiên dạy nền tảng thiền định cho Luang Pu Waen Sujinno – cùng những trang ghi chép quý giá về việc học Mulakaccayana cổ trên lá bối, môn saiyavet vidhya khom dùng để giúp dân làng, và biến cố các thầy lần lượt hoàn tục khiến Luang Pu phải tự tìm con đường riêng để giữ trọn lời hứa xuất gia trọn đời với mẹ và bà ngoại.

Trên hành trình đến với dòng tu rừng của Luang Pu Mun Bhuridatto, Luang Pu Waen Sujinno đã có một người thầy mở đường rất quan trọng: Phra Ajahn Singh Khantayakamo. Chương 2 của bộ tiểu sử do PGS.TS. Pathom và PGS. Phattra Nikhomanon biên soạn dành phần lớn trang giấy để khắc họa vị "đại tướng soái" này, và qua đó cho ta thấy những bước đi đầu tiên của một sa-di trẻ trên con đường Pháp.
Phra Ajahn Singh – đại đệ tử của Luang Pu Mun
Phra Ajahn Singh Khantayakamo có thể xem là vị Phra Ajahn đầu tiên dạy nền tảng thiền định cho Luang Pu Waen, là nhân duyên đưa Luang Pu dâng hiến thân mạng cho việc hành vipassanā kammaṭṭhāna đến mức viên mãn.
Luang Pu Singh là người tỉnh Ubon Ratchathani, xuất gia tại chùa Wat Sutatsanaram trong thành phố Ubon năm PL. 2452 (1909), với Somdet Phra Maha Wirawong (Uan Tisso) – khi ấy còn giữ tôn hiệu Phra Sasanadilok – làm thầy Upajjhāya. Vốn là thầy dạy Pariyattidhamma, đến năm PL. 2458 (1915) ngài mới đến học thiền với Luang Pu Mun Bhuridatto, từ đó thôi việc dạy học và xuất đi hành đạo bám gót Luang Pu Mun và Luang Pu Sao Kantasilo.
Bạn đồng đạo tri kỷ của Luang Pu Singh là Luang Pu Dulya Atulo chùa Wat Burapharam, huyện Mueang, tỉnh Surin. Khi Luang Pu Mun tách ra tìm nơi thanh vắng ở Chiang Mai dài đến 12 năm, ngài đã giao phó việc cai quản tăng đoàn dòng vipassanā kammaṭṭhāna cho Luang Pu Singh.
Luang Pu Singh được mệnh danh là "đại tướng soái" của đoàn quân Pháp dòng Luang Pu Mun. Đoàn của ngài đi đến đâu, chùa rừng (wat pa) lại mọc lên ở đó, tính ra cả ngàn chùa. Theo lời thuật trong sách: thời đó, người biết đến Phra Ajahn Singh còn nhiều hơn biết đến Phra Ajahn Yai (đại sư) Mun.
Cuối đời, Luang Pu Singh thường trú tại chùa Wat Pa Salawan, huyện Mueang, tỉnh Nakhon Ratchasima cho đến khi viên tịch ngày 8 tháng 9, PL. 2504 (1961), trụ thế 72 năm 7 tháng 12 ngày. Tước vị cuối cùng là Phra Yanawisit Samitthiwiracarn. Xá lợi của ngài được tôn trí trên cùng tháp đài với xá lợi Luang Pu Sao Kantasilo và Luang Pu Mun Bhuridatto.
Việc học Mulakaccayana thuở xưa
Luang Pu Waen kể về việc học Mulakaccayana (ngữ pháp Pali cổ) rằng việc học thuở ấy không có lớp học như hiện nay, thầy dạy mỗi vị một nơi. Đến giờ học, học trò phải vác sách đến tận chỗ ở của mỗi thầy. Hôm nay học môn này thì vác sách đi học với thầy này, ngày mai học môn kia thì vác sách đi với thầy nọ.
Thời xưa không có sách in thành quyển, sách dùng trong việc dạy học chủ yếu là kinh văn lá bối (baia lan). Học trò phải tôn kính sách, vì sách được coi là Pháp (Dhamma), không được khinh nhờn.
Cách làm kinh văn lá bối: đi tìm lá bối, chỉ chọn những lá đã được một tuổi; nếu lá non thì dùng không tốt, lá quá già thì dễ giòn gãy. Khi được lá rồi, đem về rạch, tước bỏ cuống lá, phơi sương ba đêm cho vừa ráo, rồi dùng chỉ hoặc dây xâu thành từng tập. Học trò tự tay khắc chữ bằng vật nhọn bằng sắt để giữ lại trì tụng, ôn tập về sau.
Bạn đồng môn và các thầy dạy
Những huynh đệ tỳ-kheo – sa-di cùng học Mulakaccayana với Luang Pu, theo lời ngài kể, gồm Phra Hiang và Phra Lao. Sau này cả hai đều lần lượt hoàn tục.
Các thầy dạy mà Luang Pu từng nhắc đến gồm: Phra Ajahn Iem chùa Wat Weluwan, làng Phai Yai, dạy môn Mulakaccayana; Phra Ajahn Chom – vị tăng điềm đạm, học trò rất ưa mến; Phra Ajahn Chali – nghiêm khắc nhưng dịch kinh rất uyên áo, từng xuống Bangkok học 10 năm; Phra Ajahn Uan dạy ngữ pháp, dạy dịch, lấy Patimokkha (giới bản tỳ-kheo) làm nền tảng.
Luang Pu kể rằng bản thân ngài chưa bao giờ thuộc Patimokkha, nhưng có thể nêu lên một sikkhapada và dịch trôi chảy không vướng mắc.
Riêng Luang Pu Singh Khantayakamo lúc đó vẫn là thầy dạy Pariyattidhamma bên phái Mahanikaya, bận nghiên cứu kinh sách nên không có thời gian rảnh để truyền đạt kammaṭṭhāna, chỉ hướng dẫn những nguyên tắc chung làm nền tảng cho việc hành thiền định.
Quan điểm của Phra Ajahn Singh về thầy thuốc và phán quan
Phra Ajahn Singh có quan điểm: Pháp của Đức Phật khám phá và dạy là để cho con người thoát khỏi khổ trong luân hồi vòng sanh tử, đi đến Nibbāna. Nhưng đa số con người vẫn chưa thể dễ dàng đến Niết-bàn được, vì còn phải mưu sinh kiếm ăn cực nhọc, còn tham, sân, si.
Vì thế dân chúng xem chư tăng như người gỡ bỏ gánh khổ giúp họ trong hầu hết mọi việc: thầy dạy, thầy thuốc, quan tòa phán xử chuyện dân làng. Một số điều hữu ích như các phép thần thông bí truyền (saiyavet) và bùa chú (vidhya khom), Phra Ajahn Singh cho rằng phải chấp nhận giữ lại để dùng trong Phật giáo đôi chỗ.
Có người bị bùa chú làm hại, có người bị thú dữ cắn, có người gặp tai nạn gãy xương chữa không lành, chư tăng phải dùng chú và thần chú để nối xương cho họ; có người phải đuổi tà, phá thai chết trong bụng mẹ. Những việc này mà y sĩ tân thời không thể đi đến chữa trị được vì quá xa xôi.
Đừng lầm đắm vào saiyasat
Sa-di Waen quan tâm tò mò với những môn sâu kín kỳ diệu. Phra Ajahn Singh thấy bản tính thanh khiết của sa-di, cho là thích hợp để được trao truyền môn đặc biệt này, nên đã truyền thụ cho đến hết kinh sách.
Nhưng ngài căn dặn: môn saiyavet vidhya khom này chỉ là lokiya-vijjā (môn phàm, thế gian), không phải môn cao quý. Hãy học với tâm vững vàng, chỉ để có cái mà giúp đỡ dân làng. Khi sa-di đi dhutaṅga kammaṭṭhāna, hãy buông môn này đi, đừng chấp thủ, vì là môn cản trở pháp xuất thế (lokuttara-dhamma), cản trở đạo, quả, Niết-bàn.
Phra Ajahn Singh dạy thêm: tăng sa-di hành kammaṭṭhāna đến khi đắc jhāna-samāpatti, đắc vimokkha, đắc abhiññā-citta một trong các điều, lúc muốn tế độ giúp đỡ dân làng không cần dùng thần chú gì cả – chỉ cần khởi tâm thệ nguyện xin nương ân đức Tam Bảo, sẽ thành tựu trong chớp mắt.
Sa-di Waen vâng lời. Khi có thí chủ đến xin nước phép giải hạn từ Phra Ajahn Singh tại chùa, Phra Ajahn thường giao cho sa-di Waen làm nhiệm vụ rảy nước phép thay ngài.
Tánh hạnh của sa-di Waen
Sa-di Waen được xếp vào loại nghiêm khắc với pháp luật và giới luật, ít nói, thích dùng trí tư duy, trầm lặng, ưa tĩnh, không thích cụm lại với tập thể. Có những ngày, sau khi học Pali xong, sa-di Waen rời chùa đi vào nghĩa địa ngồi tĩnh tọa một mình suốt cả đêm.
Phra Ajahn Singh phải buột miệng nói với Phra Ajahn Li trụ trì: "Sa-di nhỏ này gan dạ lắm, tâm hồn hào hùng không sợ gì cả. Là người Mahanikaya mà giữ nghiêm như Dhammayut vậy. Ăn cũng một buổi, không hề để ý đến thức ăn thịt cá."
Sa-di Waen dậy khoảng 3-4 giờ sáng. Đêm nào không ra ngồi thiền ở nghĩa địa, sẽ xuống khỏi cốc đi kinh hành (jongkrom) khoảng 1 giờ, rồi trở lên cốc ngồi thiền cho tâm an tịnh theo nguyên lý samatha kammaṭṭhāna cho đến khi trời sáng.
Thấy rõ bằng tự nhiên
Một hôm sau khi thọ thực sáng, Phra Ajahn Singh hỏi sa-di Waen: "Ưa kammaṭṭhāna lắm hả, chua noi?" (Chua là tiếng Isan dùng gọi sa-di).
Sa-di Waen chắp tay đáp cung kính: ngài ưa quán chiếu cây cối lá cỏ, rồi so sánh với đời sống con người và loài vật, thấy tự nhiên với lá cây ngọn cỏ giống đời người – có sinh có diệt, không tìm thấy sự bền vững nào. Càng nghĩ càng quán, càng có niềm hoan hỷ vui thích, phát sinh trí tuệ kỳ lạ khởi lên cho nghĩ cho giải, như nước chảy không dứt.
Phra Ajahn Singh nghe xong than thầm: "Sa-di nhỏ này đã có cảnh giới vipassanā, trong khi ta còn chưa kịp dạy gì cả. Đây là trí tuệ thấy rõ bản chất pháp theo tự nhiên – tức thấy sanh, già, chết. Người thấy rõ như vậy gọi là bắt đầu thấy lờ mờ được đạo, quả, Niết-bàn rồi."
Phra Ajahn Singh dạy thêm rằng việc hành pháp gần với tự nhiên sẽ chuyển tâm vào trạng thái có thể tiếp cận được tự nhiên: "Pariyatti ví như cây trong tranh vẽ, còn hành trì ví như cây thật trong rừng. Đức Phật đản sinh giữa thiên nhiên, dưới gốc cây; ngài thành đạo dưới một gốc cây; ngài nhập Niết-bàn dưới gốc cây. Chính thiên nhiên giúp người ta có tâm an tịnh."
Thọ giới cụ túc
Khi Luang Pu Waen đang học tại Ubon thì tuổi đủ để thọ cụ túc, tức đủ 20 tuổi tròn. Ngài thọ cụ túc trong phatthasīmā chùa Wat Ban Sang Tho, theo tông phái Mahanikaya, với Phra Ajahn Waen làm Upajjhāya. Tên Kammavacacarya và Anusavanacarya thì không rõ.
Về sau, Luang Pu đi dhutaṅga kammaṭṭhāna cặp với Luang Pu Tue Acalathammo nhiều năm, rồi chuyển giới (paeyatti) sang phái Dhammayutikanikaya tại chùa Wat Chedi Luang, Chiang Mai.
Khuyên thầy hoàn tục lấy vợ
Trong khoảng thời gian ngài học, hai vị thầy là Phra Ajahn Uan và Phra Ajahn Iem bị bệnh mất ngủ, các thầy thuốc chữa trị mọi cách vẫn không khỏi. Luang Pu Waen đã hầu bệnh các thầy, suy xét lý do, rồi khuyên hai vị nên hoàn tục trở về đời cư sĩ. Hai vị làm theo, hoàn tục lập gia đình, quả nhiên bệnh tiêu tan – chắc chắn là đã gặp được thầy thuốc giỏi và thuốc đúng.
Sau Phra Ajahn Uan và Phra Ajahn Iem không lâu, các thầy còn lại cũng bệnh giống nhau. Phra Ajahn Chom, Phra Ajahn Chali và các vị khác đều hoàn tục hết. Việc học Mulakaccayana của Luang Pu phải dừng lại. Phra Ajahn Singh Khantayakamo cũng chuyển giới sang Dhammayut, rồi xuất đi dhutaṅga bám gót Luang Pu Mun và Luang Pu Sao, khiến Luang Pu Waen càng thêm lẻ loi.
Phân tích nguyên nhân các thầy hoàn tục
Luang Pu Waen quán chiếu kỹ và rút ra: "Các thầy hoàn tục ra đi đều vì kāma cả thôi… Kāma này là chướng ngại ngăn cản người nhắm đến điều thiện theo con đường Phật giáo. Khi bị kāma thao túng tâm rồi vẫn không cảm thấy, cứ ngỡ là tốt nên chịu hiến mình đáp ứng. Đến cuối cùng rút chân ra không được."
Chuyện hoàn tục thì ngài đã hứa chắc với mẹ và bà ngoại rồi, trong lòng cũng không muốn hoàn tục. Vấn đề là phải làm sao cho đúng?
Quyết định: chỉ có hành đạo theo núi rừng
Từ chỗ được tiếp cận đôi chút với đường lối hành kammaṭṭhāna từ Luang Pu Singh, ngài quyết định: "Xuất đi hành đạo có lẽ là con đường duy nhất khiến ta có thể xuất gia suốt đời, như các bậc thầy tổ dòng kammaṭṭhāna đã hành trì. Các vị ấy xuất đi hành đạo theo núi rừng xa xôi, không lưu luyến tập thể. Ta nên chọn con đường này."
Phra Ajahn Singh gặp Luang Pu Mun
Luang Pu Sao Kantasilo (thầy của Luang Pu Mun) đã thỉnh Phra Ajahn Singh về chùa Wat Liap trong thành phố Ubon để giúp dạy Pali dhamma. Chính tại chùa Wat Liap này, Phra Ajahn Singh đã gặp Luang Pu Mun lần đầu tiên, khi Luang Pu Mun từ dhutaṅga bên Lào trở về thăm đại sư Sao Kantasilo.
Phra Ajahn Singh đã nghe danh tiếng Luang Pu Mun đã lâu: vị tăng thiểu dục, nghiêm trì giới luật ở mức độ tột cùng, dũng mãnh như sư tử du hành trong rừng rộng. Khi gặp được, hai bên trao đổi pháp thoại, hợp nhau sâu sắc. Luang Pu Mun giỏi về mặt hành, còn Phra Ajahn Singh giỏi về pariyatti, thông thạo Kinh, Luật, Abhidhamma.
Nếu so sánh: Phra Ajahn Singh giỏi về sách như học sách dạy nấu ăn, bản đồ, sách thuốc; còn Luang Pu Mun đã bắt tay làm theo sách một cách thật sự, ví như bước đi theo bản đồ hoặc bào chế thuốc theo sách rồi uống được ngay. Phra Ajahn Singh khi nghe Luang Pu Mun kể về đời du hành dhutaṅga qua núi rừng xa, đã phát nguyện quy ngưỡng xin làm đệ tử theo hầu dhutaṅga.
Phra Ajahn Singh từ đó bỏ việc dạy Pali dhamma, xuất đi hành đạo theo núi rừng, bám gót Luang Pu Mun. Còn sa-di Waen, thì cánh cửa rừng cũng đang mở ra trước mặt – chương sau sẽ kể tiếp.
Cao tăng trong bài viết này
Luang Pu Waen Sujinno
Xem tiểu sử đầy đủ và vật phẩm tiêu biểu