Luang Pu Waen thọ giới Dhammayut – Đầu đà miền Bắc và phát nguyện mưa né
06/05/2026
Năm PL. 2470 (1927), Luang Pu Waen Sujinno theo Phra Ubali Khunupamajarn lên Chiang Mai trùng tu Wat Chedi Luang. Cũng tại đây, ngài quyết định ñatti sang phái Dhammayut với Phra Ubali làm Hòa thượng truyền giới. Phần 9 tiếp tục với những chuyến hành đầu đà miền Bắc: ngủ qua đêm tại miếu Chao Pho Pratu Pha giữa tiếng cọp gầm, mắc sốt giữa rừng và phát nguyện chân thật xin mưa đừng rơi xuống chỗ ngồi – một câu chuyện về sức mạnh của giới và lòng tin Tam Bảo.

Theo bước chân Phra Ubali Khunupamajarn lên Chiang Mai, Luang Pu Waen Sujinno bước vào một giai đoạn quan trọng: tham gia trùng tu Wat Chedi Luang, ñatti sang phái Dhammayut, và bắt đầu những chuyến hành đầu đà dài trên các nẻo rừng núi miền Bắc. Chương 9 ghi lại nhiều giai thoại sống động và một trong những trang gây ấn tượng mạnh nhất – câu chuyện phát nguyện cho mưa né đi.
Công việc chỉnh trang chùa Chedi Luang
Trong thời gian Chao Khun Phra Ubali Khununpamajarn nhập hạ tại chùa Chedi Luang lần ấy, ngài đã thuyết pháp giáo hóa chư Tăng Ni, nam nữ cư sĩ, đồng thời đích thân dẫn chư Tăng Ni quét dọn, chỉnh trang khuôn viên chùa cho sạch sẽ gọn gàng. Mỗi đêm ngài còn mở khóa giảng dạy Phật pháp đều đặn. Kết quả: chư Tăng Ni sống nền nếp; cảnh chùa sạch sẽ ngăn nắp; hàng cư sĩ và dân chúng đến làm công đức, nghe pháp ngày một đông.
Ra hạ xong, Chao Khun Phra Ubali thường dẫn chư Tăng Sa-di đi tịnh cư (viveka) ở các huyện lân cận. Đôi lúc trong mùa khô, ngài xuống Bangkok có việc. Gần đến ngày Pavarana nhập hạ, ngài mới trở lên Chiang Mai an cư.
Luang Pu Waen ở lại phụ giúp công việc cho Chao Khun Phra Ubali tùy sức. Có khi, ngài tháp tùng Luang Pu Mun đi tìm chốn viveka tại các huyện xa.
Thọ giới lại theo phái Dhammayut
Chính trong năm PL. 2470 (1927) này, Chao Khun Phra Ubali thấy rằng Luang Pu Waen thành tâm quyết chí trong hạnh tu, tinh tấn (viriya) đều đặn, có giới hạnh phù hợp với dáng vẻ sa-môn, và đã thân thiết với ngài từ lâu.
Một hôm, Chao Khun Phra Ubali nói với Luang Pu Waen: "Mình sống chung đã lâu rồi, nên ñatti (thọ giới lại) đi thôi, để cùng nhau hành tăng sự, khỏi phải báo thanh tịnh (pārisuddhi) trong ngày Uposatha như hiện nay."
Ban đầu, Luang Pu thưa xin cho thời gian bàn bạc với Luang Pu Tue trước, vì lúc ấy Luang Pu Tue vẫn đang một mình đi đầu-đà, chưa lên tới Chiang Mai. Nhưng nghe Chao Khun Phra Ubali giải bày lý do rõ ràng, ngài quyết định ñatti trở thành Tỳ-kheo phái Dhammayut ngay tại sīmā chùa Chedi Luang.
Phra Ubali Khununpamajarn (Chan Sirichantho) làm Hòa thượng truyền giới (upajjhāya). Phra Khru Siphisansarakhun làm thầy yết-ma (kammavācāchārya), và Phra Khru Phisiphisankhun (Thong Ghosito) làm thầy giáo thọ tuyên ngôn (anusāvanāchārya).
Vì sao lúc đầu Luang Pu Waen chưa chịu ñatti
Việc lúc đầu Luang Pu Waen chưa chịu thọ giới lại mà muốn chờ bàn với Luang Pu Tue trước là vì nếu ngài tự quyết một mình, sau này có thể bị bạn đồng tu trách cứ. Bởi Luang Pu Tue là sahadhammika cùng đi đầu-đà với ngài trong và ngoài nước gần như khắp mọi nơi.
Thêm nữa, lúc đó Luang Pu Waen đã là một vị trưởng lão có 20 hạ. Một vị Tỳ-kheo hạ lạp cao như vậy, khi quyết định việc gì phải hết sức thận trọng. Nhưng với lòng kính trọng Chao Khun Phra Ubali cùng với lý lẽ thấu đáo, Luang Pu đã đồng ý ñatti mà không đợi Luang Pu Tue.
Về sau, khi Luang Pu Tue tới Chiang Mai, ngài cũng thọ ñatti phái Dhammayut tại chùa Chedi Luang giống vậy.
Thời ấy, có không ít chư Tăng phái Mahanikāya hạ lạp cao chịu làm đệ tử Luang Pu Mun rồi thọ ñatti chuyển sang Dhammayut. Nhưng cũng có nhiều vị được Luang Pu Mun bảo không cần ñatti. Lý do: "Đạo, quả, Niết-bàn không phụ thuộc vào phái nào, mà phụ thuộc vào hạnh tu của từng người."
Trong số các đệ tử Luang Pu Mun gốc miền Bắc thuộc phái Mahanikāya nổi tiếng, có Luang Pu Khamsaen Khunalankāro chùa Don Mun (San Khong Mai), huyện San Kamphaeng, Chiang Mai, và Phra Khru Suphatthakhun (Luang Pu Khampan Suphaddho) chùa San Pong, huyện Mae Rim, Chiang Mai.
Đi đầu-đà ở miền Bắc
Luang Pu Waen và Luang Pu Tue đều hợp với khí hậu miền Bắc, có thể nói đây là sappāya (thuận lợi) cho hai ngài trong việc hành thiền. Luang Pu du phương khắp rừng núi vùng Chiang Rai, Phayao, Lampang, Chiang Mai là chủ yếu. Còn miền Bắc phía dưới gồm Tak, Kamphaeng Phet, Uttaradit, Phrae, Nan thì Luang Pu chỉ từng đi đầu-đà qua lại vài lần.
Có nơi Luang Pu an cư mùa mưa, có nơi chỉ dừng chân hành thiền trong mùa khô, ở mỗi nơi 3 ngày, 7 ngày, 15 ngày, hoặc 1 tháng. Hành trình đầu-đà gặp bao chướng duyên, nhưng ngài đều vượt qua được nhờ tâm lực vững mạnh và trí tuệ ba-la-mật (paññā-pāramī).
Đi đầu-đà từ Chiang Rai xuống Lampang
Có lần Luang Pu Waen đi đầu-đà một mình, từ Chiang Rai đi Lampang. Ngài đến Phayao (thời ấy là huyện thuộc tỉnh Chiang Rai), nghỉ 3-4 ngày tại chùa Phra Chao Ton Luang để dưỡng sức.
Khi Luang Pu rời Phayao đi Lampang, tình cờ có xe kéo gỗ đi cùng tuyến đường, người trên xe thỉnh ngài lên xe đi chung. Lúc đó là tháng 7 (tháng Sáu dương lịch), vào mùa mưa. Xe chạy đến gần huyện Ngao thì sa lầy. Luang Pu cảm ơn rồi bảo sẽ từ từ đi trước.
Lúc Luang Pu đi đường, mưa phùn suốt, đến tối thì tới một bản làng, vào nghỉ nhờ ở cái salā gần đó. Sáng hôm sau khất thực, thọ trai xong rồi đi tiếp. Thời ấy, đường từ Phayao đi Lampang là đường kéo gỗ; mùa mưa xe ngưng kéo, đường đi cực kỳ gian khổ. Phải vượt suối, vượt đèo, băng rừng rậm, nơi đâu cũng có vắt hút máu.
Ngủ qua đêm ở miếu Chao Pho Pratu Pha
Luang Pu đi đến miếu Chao Pho Pratu Pha khi trời vừa chạng vạng, nên nghỉ luôn tại đó. Miếu thời ấy được dựng thành một cái nhà gỗ lớn, đủ để người trèo lên nằm ngủ.
Luang Pu dùng tấm y tắm phủi bụi và lá cây trên sàn, rồi trải y xuống nền gỗ, giăng glot (dù bát), xếp gọn vật dụng xong, ra tắm nơi con suối gần đó. Ban đêm yên tĩnh rất dễ chịu. Khi nằm, ngài lấy tấm sanghāti gối đầu thay gối. Lúc nghỉ cho bớt mệt, Luang Pu lạy Phật tụng kinh, rải tâm từ cho hộ pháp và chúng sinh, rồi luân phiên đi kinh hành và ngồi thiền.
Đêm đó có đàn cọp đến gầm quanh chỗ ngài nghỉ, tiếng "hụp hụp" đáp nhau, nghe âm thanh từng con rất lớn, đủ sức nuốt gọn con bò. Tiếng gầm đáp nhau từng đợt, ngay gần chỗ ngài nghỉ. Đến đêm khí trời lạnh buốt, ngài phải đi kinh hành và ngồi thiền cả đêm.
Mắc sốt giữa đường
Trời vừa hừng đông, Luang Pu thu xếp vật dụng rồi lên đường. Xế chiều, ngài thấy kiệt sức, đầu nặng như sắp lên cơn sốt. Đi thêm khoảng 2 tiếng, hai chân như bước không nổi nữa, toàn thân rã rời.
Ngài đành tấp vào dưới bóng cây ven đường, đặt dù bát và bình bát xuống, ngả mình ngủ, mê man vì cơn sốt. Tỉnh dậy khi nghe tiếng gió thổi rít qua ngọn cây ù ù, tiếng sấm rền, tia chớp lóe khắp nơi. Mây đen kéo kín đặc, gió thổi giật mạnh, mưa bắt đầu rơi lác đác. Muốn giăng dù thì gió quá mạnh, chẳng biết trốn mưa ở đâu.
Xin mưa né đi
Khi Luang Pu thấy chắc chắn không còn cách nào trú mưa, ngài gom hết sức ngồi dậy nhập định, đặt saccādhiṭṭhāna (thệ nguyện chân thật) nương vào ân đức Phật, Pháp, Tăng:
"Con đã xuất gia hiến dâng đời mình cho Phật, cho Pháp, cho Tăng. Hôm nay con đi đường định sang Lampang thì lâm bệnh sốt, hết sức đi tiếp. Nếu phước ba-la-mật của con đủ để hành phạm hạnh đến tận cùng khổ đau, xin cho mưa đừng rơi xuống chỗ con đang ngồi đây."
Rồi Luang Pu rải tâm từ đến chư hộ pháp, thần linh thổ địa: "Kính chư hộ pháp uy linh, thổ địa thổ công, cho đến chư Nāga, Garuḷa, cùng các đấng có oai lực, hôm nay con đang trên đường đi Lampang thì lâm bệnh giữa rừng, hết sức đi tiếp. Xin chư vị thương xót con, dùng thần lực của mình, khiến cơn mưa đang đổ này né chỗ con đang ngồi, đổi hướng đi nơi khác. Việc cấm mưa không rơi thì không trong phạm vi nào, nhưng xin đừng rơi xuống chỗ con."
Thật là mầu nhiệm
Đây là giai thoại do Luang Pu Waen kể lại, được người biên soạn ghi vào tiểu sử – người đọc nên hiểu là tư liệu truyền miệng trong dòng tu rừng.
Theo lời ghi: khi Luang Pu phát nguyện xong, ngài an định tâm, rải tâm từ đến muôn loài chúng sinh khắp vũ trụ không hạn lượng, rồi nhắm mắt ngồi thiền tĩnh lặng. Giữa lúc mưa đang rơi dày hạt, bỗng có một cơn gió thổi đến rất mạnh, cây cối nghiêng ngả theo hướng gió. Nhờ sức gió ấy, cơn mưa đổi hướng tức thì, rơi ra xa chỗ Luang Pu ngồi trong bán kính chừng 1 sên (khoảng 40 mét), chừa đúng chỗ Luang Pu. Hôm đó mưa kéo dài khá lâu.
Khi mưa tạnh, cơn sốt vẫn chưa hạ, Luang Pu đành nằm xuống tiếp mà không giăng dù. Khi tỉnh dậy thì đã ban đêm, thấy toàn thân ướt đẫm, một phần do muỗi rừng cắn, phần khác do toát mồ hôi. Luang Pu không để tâm đến chuyện thân thể, chỉ biết đã dứt sốt, thấy người nhẹ nhõm, cổ khô khát nước, liền đứng dậy cầm ấm ra múc nước ở con suối gần đó, dùng dhammakarok (đồ lọc nước) lọc nước đầy ấm rồi trở về chỗ cũ, ngồi thiền cho đến sáng. Trước khi lên đường, Luang Pu lắng tâm, rải tâm từ đến muôn loài. Chuyến đi hôm ấy thuận lợi an toàn.
Cái hay của việc đi đầu-đà một mình
Việc Luang Pu Waen và Luang Pu Tue thường cùng đi đầu-đà không có nghĩa luôn đi chung suốt lộ trình. Mà là khi đi chung khi tách nhau, 3 ngày, 5 ngày, 2 tuần, hay 1 tháng gặp lại một lần; hoặc có lúc dựng glot gần nhau rồi mỗi vị tách ra một ngả.
Trong chuyến đi đầu-đà xuống Lampang này, hai ngài tách nhau đi, rồi gặp nhau ở Lampang. Sau đó Luang Pu Waen đi tiếp lên Chiang Mai, Luang Pu Tue tách sang tìm viveka quanh huyện Thoen.
Luang Pu Waen kể cái hay của việc đi một mình: thấy thoải mái, không vướng lo, không như đi theo đoàn nhóm – có nơi bạn muốn đi mà mình muốn ở, có nơi mình muốn đi mà bạn muốn ở. Đi một mình, lúc nguy cấp tâm rất dễ định, chánh niệm tỉnh giác luôn là bạn song hành. Vừa đi vừa hành thiền, có khi tâm an trú rất lâu, ít có tình trạng phóng tâm chạy theo cảnh ngoài.
Hành thiền ở nơi có nguy hiểm
Luang Pu kể: ở những nơi có dã thú, có cọp, có voi, có gấu, hay rắn ở gần – chính ở những nơi như vậy, chánh niệm mới luôn tỉnh thức. Sở dĩ chánh niệm tỉnh là vì nó sợ "thầy cọp", "thầy voi", "thầy rắn", "thầy gấu" đến hại.
Luang Pu bảo chữ "tỉnh" ở đây không có nghĩa là tỉnh vì sợ con thú, mà có nghĩa là tỉnh bằng Pháp. Chẳng hạn hành đề mục maraṇānussati (niệm sự chết), tâm sẽ dồn tìm phương tiện trí tuệ chỉ riêng với đề mục ấy. Lúc tâm yên tĩnh ở những nơi nguy hiểm, sự yên tĩnh trụ được rất lâu, phương tiện quán chiếu (upāya) cũng sắc bén.
Chuyện ăn uống và khất thực
Luang Pu kể: hành trình của nhà sư đầu-đà không thể kén chọn đồ ăn. Có nơi khất thực được cơm trắng, có nơi cơm với muối, có nơi cơm với ớt, có nơi cơm với mật mía. Được thế nào ăn thế ấy, chỉ để làm vơi cơn đói, chứ chẳng có chuyện ăn cho no nê.
Có những bản, đi khất thực được cơm với muối, có bản được cơm với rau. Hỏi dân họ có ớt không, họ bảo "không có". Hỏi không có sao không trồng, họ trả lời "khó nhọc lắm". Dân ở bản rừng sống rất giản dị theo tự nhiên, không khéo biến hóa.
Nghỉ qua đêm trong rừng cọp
Một lần khác, Luang Pu cũng đi đầu-đà từ Phayao xuống Lampang, đi men theo hồ Kwan Phayao, cắt qua ngọn đồi Doi Mu. Tuyến đường ấy không có đường xe, chỉ là lối mòn, đi lại khá gian khổ.
Luang Pu đi một mình, chiều thì tới cái salā giữa rừng, do người ta dựng sẵn cho khách đi đường, vì trong vùng không có bản làng nào gần. Phía ngoài salā có rào quanh ngăn thú dữ, bên trong có bếp lửa với đá sẵn. Lúc trời tối thì lạy Phật tụng kinh rải tâm từ, rồi ngồi thiền đến khuya mới nghỉ.
Đêm đến, ngài nghe tiếng cọp gầm quanh salā. Luang Pu kể, cọp rất giỏi bắt chước tiếng các loại thú rừng khác, chẳng hạn tiếng nai, tiếng hoẵng, chúng giả được y hệt. Đôi khi hoẵng nghe tiếng cọp giả, tưởng là đồng loại, lầm bước đến, rồi bị cọp vồ ăn thịt dễ dàng. Ngài phải nhóm lửa bếp sưởi, ba lần thức dậy cho thêm củi.
Gặp người phụ nữ có tâm bố thí
Sáng ra, Luang Pu hỏi đường, được biết phía trước có một bản làng cách đó khoảng ba tiếng đi bộ. Ngài đi mãi mệt lả vẫn không thấy bản làng nào. Khi gặp ba người phụ nữ gánh đồ đi ngược chiều, ngài hỏi thăm và mới biết bản làng đó đã đi qua rồi.
Ba người phụ nữ hỏi: "Bạch tôn đức đã thọ trai chưa?" Luang Pu bảo: "Chưa thọ, lúc đầu định đi khất thực thọ trai ở bản làng đó." Ba người phụ nữ liền nói: "Nếu vậy, chúng con xin thỉnh tôn đức thọ trai trước đã. Chúng con có mang cơm theo. Hôm nay là phước của chúng con, xin thỉnh tôn đức dùng cho no đủ."
Họ liền sắp sửa đồ ăn dâng bát, có cơm nếp với mật mía đóng bánh. Luang Pu nhận xong liền dùng bữa, ăn được nhiều vì đang đói lắm. Thọ trai xong, ngài tùy hỷ, cầu phước cho họ. Ba người phụ nữ đều rạng rỡ, mừng vì được tạo phước giữa đường.
Phía trước Luang Pu Waen vẫn còn dài: những mùa an cư trong rừng Lanna, những lần gặp các bậc thầy tổ, và cuối cùng là chùa Doi Mae Pang – nơi ngài gắn bó cho đến những giờ phút sau cùng. Nhưng ngay từ chương 9 này, đã thấy đầy đủ phẩm chất của một vị tu rừng: quyết liệt với giới, mềm mại với tâm từ, và luôn lấy chánh niệm làm bạn đường.
Cao tăng trong bài viết này
Luang Pu Waen Sujinno
Xem tiểu sử đầy đủ và vật phẩm tiêu biểu