Mutelu Vietnam
Câu chuyện

Luang Pu Waen vân du sang Lào – Hành trình thudong xuyên rừng núi

06/05/2026

Chương 5 ghi lại bài học sửa tâm cho người mới hành thiền của Luang Pu Mun, sự cần thiết của sati-sampajañña và việc quán chiếu tứ vật dụng. Sau đó là chuyến vân du dài sang bờ trái sông Mekong cùng Luang Pu Tue Acalathammo: vượt sông tại Chiang Khan, đi xuyên rừng Lào, vào thành Luang Prabang, bị lính Pháp chặn đường khi muốn lên Sib Song Panna, rồi quay về Thái Lan và bắt đầu vân du miền Bắc – nơi gặp người dân tộc Dao trên đường rừng.

Luang Pu Waen vân du sang Lào – Hành trình thudong xuyên rừng núi

Chương 5 trong bộ tiểu sử Luang Pu Waen Sujinno mở đầu bằng những bài học sửa tâm hết sức thực tế, rồi dẫn người đọc theo bước chân hai vị du tăng – Luang Pu Waen và Luang Pu Tue Acalathammo – qua sông Mekong sang đất Lào, vào thành Luang Prabang, lên gần biên giới Sib Song Panna rồi quay về Thái Lan để tiếp tục lên miền Bắc.

Lời khuyên dạy và cách sửa tâm từ bậc thầy

Luang Pu Waen kể: việc bắt đầu hành trì khi chưa biết hành thiền, lúc ở trong rừng đặc biệt ban đêm, thường sinh nghi ngờ bao điều vô nghĩa theo cái tâm tạo lập ra. Phần lớn là chuyện tự lừa dối mình, theo thói quen của tâm – vốn tự do mà không có giới hạn, không có rào cản, không có gì kiểm soát.

Ngài kể tiếp: "Đến khi vào hành trì thời đầu, cảm thấy thấm thía tốt. Nhưng lúc thực hành thật sự, tâm lại phóng túng, tạo lên quá khứ tương lai, không suy xét quán chiếu trong hiện tại mấy."

Được ở gần các bậc thầy mang lại lợi ích tối đa. Vì bậc thầy luôn cho lời khuyên chỉnh sửa kèm phương tiện để sửa tâm lúc phóng dật, phương tiện để đè tâm lúc sinh kiêu mạn. Cộng với việc được sai đi ở các nơi có nhiều nguy hiểm, có dịp nhờ "thầy cọp", "thầy voi" làm người đe dọa tâm.

Khi tâm lắng xuống, sự tinh tấn cũng đẩy lên theo phần, làm chất bồi dưỡng cho samādhi paññā đồng thời. Khi saddhā có lực, viriya có lực, sati có lực, samādhi có lực, paññā có lực – đều hỗ trợ lẫn nhau, từ samādhi bậc thấp đến paññā bậc cao.

Sati-sampajañña phải luôn tỉnh thức

Luang Pu Waen kể về việc hành tâm: đó là điều tinh tế sâu sắc. Sati-sampajañña phải luôn tỉnh thức, nếu không sẽ theo không kịp tâm. Tâm là bản chất ưa suy nghĩ, ưa tạo lập, ưa phóng ra tìm cảnh gần hay xa, không giới hạn.

Nếu ở giữa đám đông, cảnh vào phần lớn sẽ vào qua mắt, tai, mũi, lưỡi, thân. Tâm không có sati làm người anh cả kiểm soát, thường đem vác gánh mọi thứ về chất chồng cho chính mình gây khổ.

Cảnh của người hành trì ở trong rừng thường sinh với tâm ưa tạo lập thành quá khứ, tương lai. Loại cảnh này đã phá hủy bao người hành trì rồi, vì không theo kịp ma quỷ của tâm, do thiếu sati-paññā. Mọi cảnh vào ra theo các căn môn phải được suy xét từ sati-sampajañña trước mỗi lần.

Quán chiếu tứ vật dụng trước khi thọ dụng

Luang Pu dạy rằng việc thọ dụng tứ vật dụng cũng phải quán chiếu bằng phương tiện mỗi lần. Quán chiếu tứ vật dụng trước khi thọ dụng là phương tiện đè sự tham dục của tâm rất tốt, đôi khi còn sinh khôn ngoan, trở thành phương tiện của paññā được.

Phải có indriya-saṃvara (thu thúc các căn), tránh điều ác bất thiện dù nhỏ. Phải dựa vào sự chuyên cần, cố gắng thân, khẩu, ý mới giữ được sự an toàn trong Pháp của Đức Phật. Phải làm nhiều, phát triển nhiều, cho liên tục nối nhau không gián đoạn.

Chia tay đi hành thiền

Khi đệ tử đã nhận được phương tiện Pháp từ Luang Pu Mun, đều chia tay đi hành thiền xem xét tâm mình. Có vị cương quyết thường đi một mình; ai chưa đủ dũng mãnh thường đi 2 vị, 3 vị. Nơi đến phần lớn là nghĩa địa, rừng rậm, có động có vách đá đủ làm nơi trú tránh mưa, tránh nắng.

Thời kỳ đầu, đi không xa bậc thầy cho lắm, khoảng tản bộ về nghe Pháp, làm lễ Uposatha trong ngày Uposatha được. Trừ khi có vị thầy là huynh đệ đi đầu đoàn, mới đi xa được. Việc an cư cùng Luang Pu Mun, lâu lắm mới được an cư cùng ngài một lần. Phần lớn các vị Tăng đệ tử thường tách ra ở riêng.

Vân du sang bờ trái sông Mekong

Luang Pu Waen cùng Luang Pu Tue Acalathammo đã cùng nhau đi hành thiền sang bờ trái sông Mekong, tức bờ Lào. Hai vị bắt đầu đi qua huyện Chiang Khan, tỉnh Loei, rồi qua sông Mekong lên bờ Lào, đi xuyên rừng xuyên núi tiếp tục.

Bờ Lào thời đó, rừng phần lớn là rừng nguyên sinh, cây lớn thân cao nhưng bên dưới thông thoáng, đi được thuận tiện. Một số chỗ rừng rậm rạp phải đi luồn theo đường voi. Voi rừng có đường đi thường xuyên của chúng; mỗi đàn nhiều chục con, đường đi của chúng trở nên phẳng lặng đủ cho Tăng nương theo đi được.

Đi được ba ngày, qua sông Kong. Một hôm, hai vị Luang Pu đi gặp một ngôi làng lúc mặt trời sắp lặn, tìm chỗ nghỉ dựng lọng thiền. Vừa dựng lọng xong, đã thấy dân làng toàn phụ nữ đi thành hàng hơn mười người, mỗi người có bát cơm, giỏ cơm, đem cúng dường Tăng. Họ nói "Ngo chao niao, ngo chao niao" – tạm hiểu là đem cơm đến cúng. Luang Pu làm dấu hiệu, bảo các cô đi gọi đàn ông ra nói chuyện.

Lát sau đàn ông đến, nói: "Xin thỉnh Chao Bun dùng cơm trước. Ngài đi xa chắc đói." Luang Pu nói: "Không sao đâu, mang cơm về đi. Chỉ xin nước nóng là đủ. Sáng mai hãy đem cơm mới đến." Họ hiểu và làm theo. Phần đàn ông tiếp xúc với người ngoài nhiều tộc nhiều ngôn ngữ, nên tạm hiểu được.

Khất thực theo kiểu cổ

Sáng ra, Luang Pu Waen với Luang Pu Tue đi khất thực trong làng. Phải khất thực theo kiểu cổ: đến đứng trước nhà, giả vờ ho khẽ hắng giọng để chủ nhà nghe tiếng. Họ ló đầu ra nhìn, nếu hiểu, sẽ cùng nhau đem cơm cúng vào bát.

Chiều tối, hai ngài đến một làng khác có chùa của làng, nhưng không có Tăng, chỉ có một vị Sa-di. Sa-di tỏ vẻ vui mừng, dọn nước dùng, chuẩn bị chỗ ngủ. Khi sắp xếp tiếp đón xong, Sa-di đi mất về phía sau thất, rồi nghe tiếng gà kêu, đập cánh phành phạch, rồi im bặt. Lát sau ngửi thấy mùi gà nướng thoang thoảng đến.

Sa-di mang theo mâm có cơm nếp bốc khói với gà nướng nóng hổi, đặt xuống trước mặt: "Xin thỉnh Kruba dùng cơm trước, đi xa mệt, hôm nay con nướng gà rất ngon, xin thỉnh dùng cho no." Luang Pu liền bảo: "Không cần lo đâu Sa-di, đem về đi. Hôm nay đã hết giờ thọ trai. Chiều uống nước nóng là đủ." Sa-di mang mâm đồ ăn về. Luang Pu kể với nụ cười: "Sa-di chú sẽ mang đi bố thí cô hồn hay sao không biết, không quan tâm."

Đi thẳng đến thành Luang Prabang

Địa thế bờ trái sông Mekong là nơi râm mát, có rừng và núi nhiều, thú rừng nhiều và không sợ người. Khi Luang Pu đi qua, chúng vẫn kiếm ăn như thường. Buổi sáng, nghe tiếng khỉ, voọc, vượn kêu vang khắp nơi.

Hai vị Luang Pu quyết định vào Luang Prabang trước, vì là thành có tiếng. Đến Luang Prabang, ngài vào nghỉ tại chùa Wat Tai – một trong ba ngôi chùa trong thành, cùng Wat Nuea và Wat Phra Bang. Wat Phra Bang là chùa quan trọng và là ngôi chùa cổ cùng tồn tại với thành, là nơi tôn trí tượng Phra Bang.

Trong thành người không đông, nằm trong thung lũng, có núi bao quanh, có đồng bằng đủ để trồng lúa. Dân chúng có lòng tin Tam bảo, trì giới khá nghiêm, sống bằng làm ruộng và tìm đồ rừng.

Không đi tiếp được, phải quay về Thái Lan

Hai ngài định đi tiếp về hướng Sib Song Panna, Sib Song Chu Thai, nhưng gặp đồn lính Pháp. Khi biết các ngài đến từ Siam, lính Pháp không cho đi tiếp. Các ngài đành quay về Luang Prabang, nghỉ 2-3 ngày rồi quyết định về Thái Lan, đi tắt qua rừng theo con đường cũ, qua các thành Muang Len, Muang Po, Muang Maet, Muang Kasi.

Trong thời gian đó, có tin Chao Maha Chiwit (Vua) của Lào sẽ đến thành Viêng Chăn. Nhà nước huy động dân khai quang con đường, nên Luang Pu liền dùng con đường này đi đến Viêng Chăn, rồi đi dọc bờ Mekong xuống, lên bờ Thái tại huyện Tha Li, tỉnh Loei. Chuyến đi sang Lào lần đó mất tổng cộng cả đi và về 14 ngày.

Hành thiền vùng huyện Tha Li, tỉnh Loei

Khi trở về Thái Lan qua huyện Tha Li, các ngài không quay về chùa Wat Pho Chai mà nghỉ hành thiền theo rừng núi vùng Tha Li, vừa hành thiền vừa nghỉ ngơi sau chuyến vân du. Huyện Tha Li có rừng và núi nhiều, là một trong những nơi có địa thế phù hợp cho hành thiền. Ngay cả ngày nay, tác giả Pathom Nikhomanon ghi lại rằng tỉnh Loei vẫn đầy núi chập chùng, rừng còn nhiều, vắng vẻ cách xa người.

Khi thân thể hồi phục, hai ngài đồng ý đi tiếp hướng miền Bắc – nơi cả hai chưa từng đến.

Vân du miền Bắc

Thời xưa, đi đâu phương tiện tốt nhất là đôi chân của mình. Đi đến tối đâu ngủ đó. Lần đó, đi từ huyện Tha Li đến huyện Dan Sai (tỉnh Loei). Từ Dan Sai, đi vào rừng, qua núi đến huyện Nam Pat (tỉnh Uttaradit), qua địa phận huyện Nakhon Thai (tỉnh Phitsanulok). Việc đi lại chỉ đi được ban ngày. Chiều xuống phải tìm chỗ nghỉ vì thú rừng như voi, cọp nhiều.

Sau đó đi đến huyện Tha Pla, tỉnh Uttaradit, rồi cắt qua huyện Wiang Sa, tỉnh Nan. Từ Nan, đi vòng xuống huyện Song, huyện Rong Kwang, tỉnh Phrae.

Xin khất thực cơm từ người dân tộc Dao (Yao)

Một hôm, đang đi trong lúc mệt mỏi, giữa rừng núi, vì chưa thọ thực. Tình cờ gặp một làng người Dao, hai ngài liền vào khất thực. Đi nhưng không gặp ai, vì đã đi rẫy hết. Gần đến nhà cuối cùng, có một người đàn ông ló ra. Luang Pu nói: "Bạn ơi, tôi chưa ăn cơm, xin cho ta xin cơm ăn một chút."

Người Dao đó trả lời thẳng thắn: "Cơm tôi ít lắm, tôi không cho. Tôi để dành ăn, để dành bán. Cơm chín tôi cũng có, tôi không cho, tôi để ăn. Gạo tôi cũng có, tôi để bán. Tôi không cho đâu."

Anh ấy nói xuất phát từ tấm lòng chân chất theo ngôn ngữ của mình – những người này không có giả dối. Họ có gì trong lòng liền nói ra như vậy, không nghĩ rằng nó sẽ làm tổn thương ai. Người Dao đó còn nhìn vào bình bát trống rỗng của vị Tăng và nói: "Cái bát đó, bán cho tôi đi, tôi để nấu cơm."

Luang Pu gần không nhịn được cười, khiến gần quên đi cơn đói. Liền nói: "Không được đâu, ta không bán được. Khi về đến xóm thành ta, ta dùng bát này đựng cơm."

Chuyến đi dài khép lại với hình ảnh hai vị du tăng – một bên là rừng núi nguyên sinh và lính Pháp ở biên giới, một bên là người dân tộc thật thà đến mức từ chối cúng dường mà chẳng ngại lòng. Hành trang chỉ có bát, dù và lòng tin – đủ để bước tiếp lên Lampang và Chiang Mai trong những chương sau.

Cao tăng trong bài viết này

Luang Pu Waen Sujinno

Xem tiểu sử đầy đủ và vật phẩm tiêu biểu

Xem bài viết →