Câu chuyện Somdej Toh – Phần 2 Ca nước nhụy sen và đứa trẻ ở Bang Khun Phrom
23/04/2026
Phần hai của loạt ghi chép do Maha Ammat Trai Phraya Thipkosa (Son Lohanan) để lại kể về khoảnh khắc đầu đời của Somdej Toh. Nó bắt đầu bằng một vị Tư lệnh đi tuần lạc vào lán của một cô thiếu nữ ở làng Plai Na, Kamphaeng Phet, và một ca nước có rắc nhụy sen. Từ cuộc gặp ngắn ngủi ấy là lần gia đình cô Ngut xuôi dòng về Bang Khun Phrom, là đứa trẻ sơ sinh có vết bớt đen trên lưng, là ngày gia đình ôm con đến đặt nằm ngay góc Chánh điện Wat Bang Lamphu Bon để dâng cho Phra Ajahn Kaeo. Câu chuyện này là cách Somdej Toh muốn chúng ta biết về mẹ mình và ngày ngài sinh ra.

Mở đầu
Nếu chương một đặt Somdej Toh vào khung cảnh chiến tranh, thì chương hai đặt ngài vào khung cảnh một căn lán cuối đồng ruộng ở làng Plai Na, phía nam thành Kamphaeng Phet. Theo ghi chép của Maha Ammat Trai Phraya Thipkosa (Son Lohanan), đây là chương cho thấy hai điều: cha mẹ ngài đã gặp nhau như thế nào, và từ khi nào Phra Ajahn Kaeo Wat Bang Lamphu bắt đầu là người nuôi dưỡng ngài.
Buổi chiều ở làng Plai Na
Tháng 7 năm Mùi, Chulasakarat 1137 (Phật lịch 2318, năm 1775), sau khi tiễn nhà vua về Thonburi, vị đại tướng được người đương thời gọi là Chao Phraya Chakri (về sau là vua Rama I) ở lại sắp xếp quân tại thành Kamphaeng Phet. Một buổi sáng sớm, ngài đi tuần, kéo cương ngựa rẽ cắt đường, đi vào rừng xuyên bụi, đến tận làng Plai Na phía nam thành Kamphaeng Phet.
Xế chiều, ngài thấy một căn lán cuối đồng ruộng. Không thấy người lớn, chỉ có một cô thiếu nữ đi ra. Vị tư lệnh xin nước uống. Cô thiếu nữ chạy vào phòng, lấy ca rửa mặt múc nước, rồi thò tay bẻ vài bông sen lớn trong ao nhỏ, xé cánh chỉ lấy nhụy sen rắc đầy ca nước.
Vị tư lệnh phải thổi nhụy sen để rẽ tìm lối vào nước. Khi uống xong, ngài hỏi vì sao cô lại cố tình làm việc uống khó khăn như vậy. Cô đáp:
Tôi không có ý trêu Ngài đâu. Tôi thấy Ngài nắng gió mệt mỏi, lại khát nước. Rắc nhụy sen là để phòng chống nguy hiểm cho Ngài – để ngừa việc sặc nước, nấc nước, và ngừa cảm giác nghẹn ở ngực cho người uống nước của tôi.
Lời đáp ấy khiến vị tư lệnh xuống ngựa. Ngài hỏi cô đã có ai hứa hôn chưa. Cô đáp chưa, vì "nước nhà loạn lạc nhiều năm đến nay, nên chưa có ai thấy rằng tôi đã thành thiếu nữ". Ngài xin làm chồng.
Ông Phon, bà La, và chiếc nhẫn thế chấp
Cô thiếu nữ – sau này được gọi là cô Ngut – không dám quyết, phải chờ cha mẹ. Đến gần tối, ông Phol và bà La về lán. Một cảnh rất đặc biệt diễn ra: vị tư lệnh cúi lạy hai ông bà; hai ông bà cũng bò xuống vái lại; hai bên cùng bò nằm đó. Bà La là người hay chuyện, lên tiếng trước:
Này vị quan từ Bangkok, sao Ngài lại bò phủ phục đảnh lễ tôi. Tôi là dân quê, dân đồng ruộng dân rừng, là người nghèo khổ, Ngài lại bò đảnh lễ tôi làm chi?
Vị tư lệnh đáp: "Tôi đến xin làm con rể của hai bà ạ."
Bà La lo lắng vì nhà nghèo, quần áo hôi hám, đồ đạc tan nát vì loạn lạc. Nhưng vị tư lệnh tháo chiếc nhẫn trên tay, định giá 20 chang, viết hợp đồng thế chấp, đặt trên khay miệng thắt bằng đồng lót lá chuối, quỳ gối dâng cho hai ông bà làm lễ hỏi. Đêm ấy họ cưới nhau theo tục lệ của người Kamphaeng Phet: dọn mâm cơm rừng, tắm rửa thoa phấn nước, 10 giờ đêm làm lễ rảy nước. Sáng hôm sau ngài cưỡi ngựa trở về đoàn quân, tối lại về lán chuộc nhẫn. Thành thông lệ suốt hơn một tháng, đến khi cô Ngut biết đã có thai.
Xuôi dòng về Bang Khun Phrom
Khi chiếu triều đình gọi đoàn quân về, vị tư lệnh từ biệt. Ba ông bà và cô Ngut gom vốn, đóng thuyền, chất hàng, bắt đầu nghề buôn xuôi ngược giữa Kamphaeng Phet và Thonburi. Thuyền cập bến trước nhà ông Thong, bà Pian ở Bang Khun Phrom – những người trước đây cũng sống ở miền Bắc rồi dời về đây.
Buôn bán 9 tháng, họ đủ tiền xây hai căn nhà bè đôi, có sân phơi nắng, bếp, cầu thang, bậc thang xuống nước. Họ đặt thế chấp đất ở Bang Khun Phrom phía trên nhà ông Thong bà Pian, làm chỗ sinh con.
Ngày đứa trẻ chào đời
Theo ghi chép, vào ngày thứ Tư, tháng 6, năm Thân, Atthasok, Chulasakarat 1138 (Phật lịch 2319, năm 1776), cô Ngut chuyển dạ. Tại căn nhà mới xây trên Bang Khun Phrom, đến giờ tốt ngày lành, cô sinh ra một bé trai tráng kiện.
Khi đứa bé được hơn một tháng, họ hàng đến thăm, ẵm bé lên ngắm nghía. Có người sờ phải xương cánh tay thấy là xương trục liền một khúc, liền hoài nghi bàn tán. Khi bế bé lên đùi để tắm, thấy vết bớt đen ở giữa lưng một vết. Mỗi người đoán già đoán non, có người nói hạ, có người nói cao. Cô Ngut phiền muộn, lo rằng số mình yếu, không nuôi nổi đứa con có "tướng lạ" này.
Gửi con cho Phra Ajahn Kaeo
Cô Ngut nài nỉ cha và ông Thong bà Pian tìm giúp một vị sư tốt trong vùng để gửi con làm "con chùa". Ông Thong bà Pian bàn nhau, nhớ đến Luang Pho Ajahn Kaeo chùa Bang Lamphu Bon: một vị sư hành trì nghiêm cẩn, pariyatti (học vấn) cũng tốt, hành trì cũng tốt, kiến thức cũng tốt.
Bốn người xuống thuyền chèo đến chùa Bang Lamphu Bon lúc 4 giờ chiều. Cô Ngut ôm tã bé sơ sinh đặt nằm trong tã ở góc chánh điện phía nam trước kuti của Phra Ajahn Kaeo. Rồi ông Thong bà Pian đi tìm vị sư.
Giờ chiều ấy, Phra Ajahn Kaeo đang quét sân phía bắc – công việc ngài làm mỗi ngày không bỏ. Nghe bà Pian trình bày, ngài tra ngón tay xem giờ theo sách, dựng chổi ở hõm cây, đi lên kuti, ra ngồi chỗ tiếp khách. Cha mẹ bồng đứa bé lên, đặt lên đùi ngài:
Con là ông ngoại của cậu bé nhỏ. Mẹ nó là con gái của con. Con cùng mẹ nó đồng lòng gửi cậu bé nhỏ này dâng cho Luang Pho làm con chính thức kể từ ngày hôm nay.
Lời tiên tri theo lời kể truyền lại
Theo lời kể truyền lại trong ghi chép, Phra Ajahn Kaeo sau khi nhận đứa trẻ đã quán chiếu và biết: đứa trẻ này sẽ có trí tuệ tài năng, thông minh lanh lợi trong học hành, có lòng tinh tấn kiên nhẫn, sẽ là người thông thái dũng cảm, giỏi về pháp thuật linh chú, có quyền cao chức trọng, sẽ là người "khác thường khác lạ", và sẽ có tuổi thọ lâu dài.
Ngài cột cổ tay đứa bé, tụng niệm thổi vào miệng, xoa bóp bằng ngón tay để phòng các bệnh tưa lưỡi, lác, đậu mùa. Rồi ngài gửi đứa bé cho cô Ngut nuôi đến khi 3 tuổi, mỗi năm chi 100 baht làm tiền thuê, tiền sữa, tiền cơm nhai. Ngài dặn kỹ: đừng cho mẹ ăn đồ đắng đồ cay nóng và đồ ôi thiu, e dòng sữa bị hỏng.
Lễ cạo tóc lửa và đường về Phichit
Khi đứa trẻ lên ba tháng, gia đình tìm giờ đẹp cạo tóc lửa vào tháng 9 năm Thân. Ông Phol đến Wat Bang Lamphu Bon thỉnh Phra Ajahn Kaeo cùng bốn vị tăng nữa, tổng cộng năm vị. Buổi chiều tụng kinh Paritta. Sáng hôm sau cạo tóc lửa, dâng thức ăn. Sau lễ, rảy nước thơm khắp nhà cửa, điểm dấu thuyền và nhà.
Rồi gia đình dời quê hương Kamphaeng Phet, xuống đặt thế chấp tìm đất phía bắc thành Phichit, cất dinh thự uy nghi: nhà ở, sảnh ngồi, bếp, nhà xay gạo, nhà cán, kho hàng, chuồng bò, hàng rào, cổng trước cổng sau. Họ bố thí tại chùa Yai ở thành Phichit, và quen thân với Phra Khru lớn chùa Yai – một vị sư thông thạo năm bộ kinh Mulapakorn, có tiếng về pháp thuật bất hoại (yu yong khongkraphan chatri), ngăn hổ ngăn cá sấu. Chính vị này sau sẽ là thầy bổn sư dạy chữ cho cậu bé Toh.
Kết
Chương hai khép lại trước cả khi cậu bé biết nói. Theo ghi chép của Maha Ammat Trai Phraya Thipkosa, đây là chương ghi dấu ba con người đã làm nên khung đời đầu tiên của Somdej Toh: nàng Ngut – người mẹ đã rắc nhụy sen vào ca nước; ông Phol bà La – người lên xuống buôn bán để nuôi cả một gia đình; và Phra Ajahn Kaeo – vị sư nhận đứa trẻ trên đùi mình chiều hôm ấy ở Wat Bang Lamphu Bon.
Cao tăng trong bài viết này
Somdej Phra Phuttachan (Toh)
Xem tiểu sử đầy đủ và vật phẩm tiêu biểu