Mutelu Vietnam
Câu chuyện

Câu chuyện Somdej Toh – Phần 3 Lễ cạo chõm và sa-di Toh ở Phichit

23/04/2026

Chương ba trong ghi chép của Maha Ammat Trai Phraya Thipkosa (Son Lohanan) lần về một cột mốc kỳ lạ trong đời Somdej Toh: năm bảy tuổi ngài lần đầu đến chùa Phra Khru lớn ở Phichit học chữ Thái, chữ Khmer và phép tắc. Sáu năm sau, năm mười ba tuổi, ngài làm lễ cạo chõm (kon chuk) với nhạc, pinphāt, tuồng sêpha suốt đêm. Rồi ngài xuất gia sa-di, học kinh Mula Kacchayana cả năm bộ. Đến năm mười lăm tuổi, lòng khao khát Pariyatti lớn hơn khuôn khổ chùa Yai, Phra Khru bổn sư đã khuyên ngài xuôi xuống Wat Mueang Chainat Buri tìm thầy mới.

Câu chuyện Somdej Toh – Phần 3 Lễ cạo chõm và sa-di Toh ở Phichit

Mở đầu

Giữa chương một và chương ba là một khoảng trống lớn – khoảng trống ấy chứa đựng cả một triều đại. Vào năm Dần, Chatthawasok, Chulasakarat 1144 (Phật lịch 2325, năm 1782), triều đại Thonburi khép lại. Somdet Chao Phraya Mahakasatsuek lên ngôi, đổi thành Phra Phutthayotfa Chulalok – Rama I của triều Chakri, dời kinh đô sang bờ đông Thonburi, đặt tên là "Krung Thep Mahanakhon". Cậu bé Toh, con trai cô Ngut, lúc ấy mới bảy tuổi, đang ở Phichit.

Theo ghi chép của Maha Ammat Trai Phraya Thipkosa (Son Lohanan), chương này kể về quãng đời từ khi cậu bé được gửi đến chùa học chữ cho đến ngày ngài rời Phichit để đi tìm Pariyatti.

Bảy tuổi đến cửa chùa

Khi quốc gia đã yên bình ổn định, cô Ngut đưa cậu bé Toh bảy tuổi đến gửi Phra Khru lớn ở thành Phichit (chùa Yai). Cậu học chữ Thái, chữ Khmer, phép tắc cư xử, tập tục tu viện, chuyện gia đình quốc gia, kỹ thuật xây dựng, việc nhà, việc buôn bán, cách tính số, cách làm việc của người ở, cách làm việc của người đi, cách tiếp đón tiễn đưa, cách phục vụ khi các bậc trên sai bảo, cách nói năng đi đứng, cách tạo dáng vẻ cho những bậc quyền quý. Đó là tất cả những gì một môn phái chùa lớn ở tỉnh có thể dạy cho một đứa trẻ bảy tuổi.

Lễ cạo chõm tuổi mười ba

Năm Thân, Samriththisok, Chulasakarat 1150 (Phật lịch 2331, năm 1788), cậu bé Toh được 13 tuổi, đến lúc làm lễ cạo chõm tóc (kon chuk). Ông Phol và cô Ngut đón cậu về nhà, sửa sang nhà cửa, kê lò bếp, xây bếp lửa, sửa thang, chuẩn bị đồ bếp. Thầy tử vi tìm được ngày tốt trong tháng 6 phần trên tuần trăng.

Gia đình thỉnh Phra Khru lớn, các thầy Ajahn, các trụ trì, các thầy Thana, cùng những vị tăng là thân thuộc và bạn bè – tổng cộng 11 vị. Rồi mời quan đầu tỉnh, các quan trưởng, thương nhân, gia chủ, quan thuế, quan huyện, trưởng xã, trưởng thôn, trưởng đội, trưởng xóm, họ hàng lớn nhỏ. Trải lá sen đựng bánh trái, làm lễ Thai Thana buổi sáng, trai chivon buổi chiều. Mời tuồng sêpha hát suốt đêm, mời múa hát mừng trong lúc làm lễ vía (tham khwan). Dựng rạp bạt, lót chiếu.

Nghi lễ trên giường bencha

Sáng hôm sau, cậu bé Toh được bế ra ngồi trong lễ đường. Chư Tăng tụng câu kinh Chaimongkhon Khatha. Khi đến giờ, tụng câu Chayanto, quan đầu tỉnh cầm kéo, quan thái phó vạch chõm tóc buộc ba vòng gọi là Trisinghon (ba đỉnh). Khi chư Tăng tụng đến câu "pallangkesise", quan đầu tỉnh hạ kéo kẹp chõm tóc cắt đứt cả ba vòng, rồi cạo bằng dao cán bạc, cán vàng, cán vàng nữ – gọi là dao tam bảo vương.

Cậu bé được bế ra ngồi giường bencha năm tầng. Quan đầu tỉnh rảy nước phép bằng bình ốc trước, rồi đến khách mời và họ hàng. Sau đó bế vào nhà thay quần áo mới. Khuôn bai-si có hình ốc xoay ba vòng theo chiều kim đồng hồ (takshinawat). Người chúc phúc khấn chú Wisanuwet (lời chú của thần Vishnu), thổi gió, xông khói dập nến. Gỏi tôm, gỏi cá mỗi thứ một miếng quỳ gối đút. Trái dừa non mở ra, dùng muỗng múc nước đưa cho uống. Bột gỗ đàn (chundaphot) bôi thoa theo nghi thức tà-giáo. Đội nhạc phinphat tấu lên âm thanh rộn rã ầm ầm.

Xuất gia sa-di

Bảy ngày sau, cô Ngut đưa cậu bé Toh lại chùa Yai nhờ Phra Khru dạy sa-di sikkha-nāsanaṅga (các điều thực hành giới sa-di). Đến tháng 8 năm Thân đó, gia đình chuẩn bị tam y, đai thắt lưng cha đã dặn giao lại từ xưa, bát, mền màn, dầu dừa, đèn, cùng đồ cúng dường Hòa thượng giới sư và bốn vị Tỳ-kheo tùy tùng. Họ thỉnh Phra Khru ban lễ xuất gia sa-di; bốn vị tăng ngồi làm chứng. Năm vị cùng vào chính điện.

Từ đó, sa-di Toh:

  • Nghiêm trì siêng năng, kính sợ pháp luật của Phật.
  • Phụng dưỡng Hòa thượng giới sư mỗi ngày.
  • Học kinh Mula Kacchayana Pakorn: tiếng Pali ngữ pháp, sandhi, nāma, samasa, taddhita, uṇṇāta, krit, kāraka, sandhi-phālavakarn, saddasāra, sandhapintu, saddasālinī.

Đến đêm khuya, ngài đốt đèn dâng Hòa thượng giới sư, xoa bóp chân, ép chân cẳng, ấn xoa, siêng hỏi kiểm tra trong việc học. Hỏi nhỏ hỏi vặt, từ từ dỗ ngọt, nói chuyện trìu mến – kiểu đáng yêu của trẻ con khiến thầy vừa lòng.

Pháp thuật bên cạnh Pariyatti

Theo ghi chép, Phra Khru lớn chùa Yai không chỉ dạy Mula Kacchayana. Ngài mở rộng dạy cả pháp thuật, chú ngữ, kệ dành cho tê giác, gấu, hổ, beo, voi, ngựa, trâu rừng, bò rừng. Cá sấu, giao long bơi lội quanh quẩn không dám đến gần. Chó rừng, chó nhà, bọn ác, người hung tợn – thổi cho đứng đờ lặng ngơ ngác. Sa-di Toh học được cả các môn pháp thuật khác rất nhiều loại, "đi ra rừng vào làng thử nghiệm các kiến thức" vào ngày chay ngày lễ Pháp khi không học kinh Mula.

Đây là cách chương ba trình bày mảng saiyasat (pháp thuật) bên cạnh mảng Pariyatti – hai mảng luôn song song trong truyền thống sư phụ Thái thời đó.

Mười lăm tuổi, lòng khao khát lớn hơn Phichit

Năm Tuất, Thosok, Chulasakarat 1152 (Phật lịch 2333, năm 1790), sa-di Toh mười lăm tuổi, đã xuất gia ba hạ. Ngài học xong cả năm bộ kinh Mula Kacchayana, hiểu ngữ pháp, biết liên hệ đầy đủ. Tháng 12 năm Tuất đó, sa-di Toh phát sinh lòng khát khao học Pariyatti Dhamma (giáo điển) cao hơn.

Phra Khru bổn sư nghe lời thỉnh cầu mà bối rối. Theo ghi chép, ngài nói thẳng với sa-di Toh về khuyết điểm của thư viện chùa:

  • Các kinh điển Pariyatti đã bị phân tán rơi rớt hư hỏng rất nhiều từ thời Miến Điện xâm lược.
  • Sangharat Rueang đã tự nhận mình là đức vua, khiến tài sản chùa bị hư hại lần thứ hai.
  • Giặc đã xông vào cướp phá, đoạt kinh điển đi hết là lần thứ ba.

Ngài nói với đệ tử:

Mình có kinh Mula, mình thạo và có thể dạy đệ tử hết mọi kinh. Nhưng mình chỉ có Mula đầy đủ thôi... Giữ bạn lại, cũng kéo theo bạn ngu dốt, bởi thầy ngu thì đệ tử cũng phải ngu theo. Chính mình cũng vì lý do này nên mới chịu ngu. Nhưng đến lúc bạn thì lại khiến bạn ngu theo đó là không đáng với mình.

Và ngài giới thiệu một vị thầy khác: Phra Khru chùa tại tỉnh Chainat, người "học giỏi, để ý siêng năng kiểm tra từ ngữ câu chữ của Phật giáo, Atthakatha Tika cũng có nhiều, ngay cả các học giả ở kinh đô cũng không e dè sợ hãi".

Sa-di Toh đảnh lễ từ biệt, về nhà nài nỉ mẹ và ông ngoại xin đưa đi gửi gắm. Ông Phon và cô Ngut thấy thương không cản được, chuẩn bị thuyền, người và lương thực trong hai ngày.

Cá sấu ở bến Wat Mueang Chainat Buri

Thuyền đi hai đêm thì đến bến Wat Mueang Chainat Buri. Neo đậu xong, mọi người tắm rửa và ngủ trong thuyền. Sáng hôm sau trời sáng rõ, một con cá sấu lớn ở vùng nước bến đã leo thân lên đến ngay đầu thuyền nhà ông Phon.

Theo lời kể truyền lại trong ghi chép, cảnh tiếp theo được Somdej Toh cho vẽ lại rất cụ thể trên tường Wat Intharawihan: người chèo thứ nhất nằm ngủ đầu thuyền, người thứ hai giật mình thức dậy vươn người kéo lui, người chèo thứ ba ngồi vắt chân cười. Ba mẹ con trên nhà chạy trốn lên cầu thang, quần áo tụt hở hang, con bé nắm chân mẹ, mẹ nắm chân bà. Ông Phol thò đầu ra đứng nhìn ở đầu thuyền bít, nói gì cũng không nói.

Còn sa-di Toh đã đứng dậy ngồi thiền niệm trong rạp thuyền. Theo lời kể, cá sấu leo lên rồi há miệng không ra, chìm xuống cũng không được, không quất không vỗ đuôi, trông trạng thái mềm nhũn. Người trên nhà cũng ngẩn ngơ. Người trong thuyền cũng trơ như một tư thế.

Chi tiết này thuộc phần giai thoại, người biên soạn thừa nhận dịch từ tranh tường theo "sự suy xét và phỏng đoán giả định".

Thầy Phra Khru tỉnh Chainat nhận đệ tử

Đến sáng, thuyền nấu ăn xong, ba người đưa sa-di lên liêu thất Phra Khru. Ông Phol trình bày mọi nguyện vọng. Phra Khru trụ trì Wat Mueang Chainat Buri hỏi thăm về việc đến đây, về nhà cửa, nguyện vọng. Ngài quán sát sa-di và nhận xét:

Sa-di này có vasana ba-la-mật pháp trụ vững. Mọi bộ phận thân thể đều đầy đủ to lớn, không khiếm khuyết đúng theo đặc điểm.

Ngài cất lời:

Bần tăng sẽ giúp chỉ dạy khéo léo cho có kiến thức trong các kinh điển theo tuổi và trình độ của sa-di. Vì các Phật tử cả hai người đã cố công đến đường xa. Không sao, bần tăng sẽ giúp cho được như nguyện mọi mặt.

Kết

Chương ba khép lại bằng lời hứa của một vị thầy mới. Theo ghi chép của Maha Ammat Trai Phraya Thipkosa, đây là bước ngoặt thứ nhất trong đời học đạo của Somdej Toh: rời chùa tỉnh nhỏ, tìm vào một môn phái Pariyatti mạnh hơn, để chuẩn bị cho lần xuôi dòng xa hơn nữa về Bangkok.

Cao tăng trong bài viết này

Somdej Phra Phuttachan (Toh)

Xem tiểu sử đầy đủ và vật phẩm tiêu biểu

Xem bài viết →