Câu chuyện Somdej Toh – Phần 4 Tám cấp Pali và ngày vào chầu Đông cung
Chương bốn trong ghi chép của Maha Ammat Trai Phraya Thipkosa (Son Lohanan) kể ba năm sa-di Toh học tại Wat Mueang Chainat Buri, hoàn thành tám cấp độ Pali. Năm mười tám tuổi ngài xuôi dòng về Bangkok, ghé chiêm bái Phật Phra Chinaraja ở Phitsanulok, rồi được ông ngoại đưa đến gửi Phra Ajahn Kaeo chùa Bang Lamphu Bon. Chính tại đây, qua bàn tay của Phra Horathibodi và các quan Cục Học sĩ Hoàng gia, sa-di Toh lần đầu được đưa vào chầu Đông cung Thái tử – vị sau này là vua Rama II. Chiếc đai lưng gai mít mẹ trao cho ngài là chi tiết được ghi rất kỹ trong chương này.

Mở đầu
Chương ba để lại sa-di Toh ở Wat Mueang Chainat Buri vào năm 1790, vừa được Phra Khru tỉnh Chainat nhận làm đệ tử. Chương bốn kể tiếp quãng học ba năm tại đó, rồi bước ngoặt lớn nhất trước tuổi hai mươi: ngày ngài lần đầu được dẫn vào Cung điện Cũ bên bờ Thonburi, gặp Somdet Chao Fa Krom Luang Itsarasunthon – người sau này sẽ trở thành vua Rama II và là một trong những vị thí chủ lớn nhất đời ngài.
Ba năm ở Wat Mueang Chainat
Ông Phol và bà Ngut gửi con rồi quay về Phichit. Theo ghi chép của Maha Ammat Trai Phraya Thipkosa (Son Lohanan), từ ngày vào thiền viện của Phra Khru chùa Mueang Chainat, sa-di Toh giữ phong cách rất đặc biệt:
- Làm tròn bổn phận, tuân quy định, khiêm nhường với các vị tăng đồng viện.
- Hòa thuận với bạn học, không tỏ thái độ, không tự cao, không kiêu căng, không so kè tranh giành hơn thua, không nói xấu nịnh nọt.
- Chuyên tâm hầu hạ Phra Khru, canh chừng trước sau. Khi thầy đi đâu thì lo sắp xếp vật dụng; khi thầy về thì cất dọn đều đặn.
- Ban đêm vào nhận lời giáo huấn, điều gì không biết thì hỏi; hiểu chưa tới thì truy vấn; chỗ nào vướng mắc không khớp thì trao đổi bàn luận.
Đối chiếu Pali với Dhammapada Dipani, Dasajati (mười tiền thân Phật), Sarattha, Samantha, Ṭīkā, Yojana, Gaṇṭhi trong Tam Tạng – ngài không vội kết luận, không lấy ý kiến của mình làm chuẩn. Có lúc dịch ra tiếng Lào, có lúc dịch ra tiếng Khmer, có lúc dịch ra tiếng Miến Điện.
Trải qua ba năm, học đến tám cấp độ Pali. Sa-di Toh không gặp chướng ngại ngăn trở, không có dấu hiệu đau ốm bệnh tật.
Lòng khao khát xuôi xuống Bangkok
Tháng 12 năm Sửu, Benchasok, Chulasakarat 1155 (Phật lịch 2336, năm 1793), sa-di Toh vừa tròn 18 tuổi, khao khát xuống học tại thiền viện của các vị học sĩ hoàng gia ở kinh đô Bangkok. Ngài đảnh lễ Phra Khru tỉnh, trình bày:
Con xin đảnh lễ cáo biệt Ngài để xuống tham học tại thiền viện của các học sĩ hoàng gia đại vị cao quý, để làm rạng danh tên tuổi công đức của Ngài được lan rộng tại Bangkok.
Phra Khru tỉnh Chainat hoan hỷ: chính ngài cũng đang muốn gửi một đệ tử tốt vào kinh đô, để danh tiếng môn phái mình được biết đến. Ngài hoãn ba ngày để chuẩn bị.
Cảnh chia tay ở Chainat
Sáng hôm sau, sa-di Toh chèo thuyền ba ngạnh đi khất thực đến các nhà thượng nguồn và hạ nguồn để từ biệt. Ghi chép ghi lại một bức tranh rất đời:
- Trẻ em, đệ tử nhỏ trong chùa biết thầy sa-di sẽ xuống Bangkok, mặt buồn ủ rũ, mắt đỏ hoe. Các em đã sống sung túc với thức ăn dư dả nhờ uy đức giới đức của sa-di Toh suốt ba năm qua.
- Các cô thiếu nữ trẻ cùng trang lứa ấp úng không dám can ngăn vì mắc cỡ; lấp ló qua cửa sổ, ngóng nhìn qua kẽ hàng rào đầu làng; có cô ngậm ngùi lau nước mắt.
- Bọn trẻ về chùa la lên: "Từ ngày này trở đi, chúng mình sẽ phải nhịn đói thôi!"
Phra Khru gọi Phra Palat và Phra Samuh đến, dặn chuẩn bị thuyền mui bốn mái chèo, người chèo đầy đủ, lương thực cho cả lượt đi lẫn về. Hai vị sẽ thay ngài đưa sa-di Toh về tận Phichit.
Ghé đảnh lễ Phật Phra Chinaraja
Phra Palat, Phra Samuh cùng sa-di Toh về đến Phichit. Mẹ Ngut sắp xếp thuyền, người, lương thực và đồ gửi cho người ở Bangkok, rồi sai ông Phol làm người dẫn đường đưa sa-di đi. Bà dặn:
Phải ghé chiêm bái đảnh lễ tượng Phật Chinaraja vào ngày rằm tháng 12 này trước. Và cha phải khấn xin Luang Pho Chinaraja giúp che chở, hộ trì, giữ gìn sa-di, đừng để có sự cố nào, đừng để bệnh tật, đừng có nguy hiểm, từ ngày hôm nay cho đến khi già yếu. Xin cho sa-di học tập thành tựu mọi điều. Cùng xin uy đức của Luang Pho Chinaraja giúp bảo vệ khỏi kẻ thù lũ du đãng.
Thuyền chèo theo sông Phitsanulok, đến chùa Phra Chinaraja ngày 14 tháng 12 năm Sửu, Benchasok, Chulasakarat 1155 (Phật lịch 2336 – năm 1793). Ngày rằm tháng 12, ông Phol thỉnh sa-di Toh lên chùa, đi nhiễu quanh (padakkhina), vào đảnh lễ, khấn cúng dường theo đúng lời dặn của mẹ.
Gặp lại Phra Ajahn Kaeo ở Wat Bang Lamphu Bon
Thuyền chèo tiếp hai đêm, đến bến chùa Wat Bang Lamphu Bon, Bangkok vào khoảng 8 giờ sáng ngày 2 tháng 12 năm Sửu – năm thứ 12 triều đại Rama I. Ông Phol dẫn sa-di Toh – cháu ngoại, con bà Ngut – lên gửi gắm cho Phra Ajahn Kaeo (chính vị sư đã nhận ngài làm "con chùa" từ thuở sơ sinh).
Phra Ajahn Kaeo phát sinh niềm tin và kính ngưỡng đúng như lời tiên tri đã tiên đoán từ khi Ngài còn nằm nôi. Ngài chợt nhớ đến tiền từng hứa với mẹ của sa-di – mỗi năm 100 baht, ba năm tổng cộng 300 baht – liền sai đệ tử làm vaiyavaccakorn lấy ra, giao ông Phol mang về trả. Ông Phol cung kính nhận, nhưng khi sắp chia tay lại trả lại 300 baht đó cho Luang Pho Kaeo, còn cúng dường thêm 100 baht làm tiền nuôi dưỡng sa-di về sau.
Học với Phra Horathibodi và các quan Cục Học sĩ Hoàng gia
Sa-di Toh ở chung với các vị tăng chùa Bang Lamphu Bon. Sáng sớm đi khất thực – bát cơm phong phú dồi dào. Đến giờ tốt, Phra Ajahn Kaeo dẫn ngài đến gửi gắm Phra Horathibodi, Phra Wichien – các quan của Cục Học sĩ Hoàng gia – để học kinh điển Pariyatti Dhamma cả ba Tạng.
Bảy vị cư sĩ thí chủ thân cận xuất hiện trong chương này: Phra Horathibodi, Phra Wichien, quan Thư ký Duang, Khun Phrom Sena, Palat Kamnut, Thư ký Bun, và Phra Kraset. Cả bảy đều giàu có, thế lực, tín tâm vững chắc vào Phật giáo.
Tài thuyết Maha Chat
Sa-di Toh trở thành người thường được thỉnh thuyết pháp. Đến mùa thuyết Maha Chat (mười đời tiền thân Phật) tại các chùa quanh vùng, ngài thuyết đủ mười ba phẩm: Himphan, Thanakhan, Wan Prawet, Chu Chok, Chunlaphon, Mahaphon, Kuman Banph, Matsi, Sakkabanph, Maharaja, Chakasat, Nakhorn Kanth. Giọng nhỏ the thé cũng được, giọng ngọt ngào trong trẻo cũng được, giọng ồm ồm cũng được. Tiểu xảo phẩm Mahaphon và đoạn sara, đoạn rajasi (sư tử) thật điêu luyện.
Nhưng, theo ghi chép, sa-di Toh không say mê nổi tiếng, không chìm đắm với đám cư sĩ thí chủ đông đảo. Ngài chú tâm vào học tập hành trì, vui theo con đường phát triển pháp tu của bậc Sa-môn.
Đai lưng gai mít
Tháng 5 năm Dần, Lục Tinh, Chulasakarat 1156 – năm thứ 13 triều Rama I – sa-di Toh tròn 18 tuổi; Chao Fa Krom Luang Itsarasunthon tròn 28 tuổi âm lịch.
Ba vị quan – Phra Horathibodi, Phra Wichien, Thư ký Duang – quan sát thấy sa-di Toh khác thường: cử chỉ tác phong, hạnh kiểm, trí tuệ xuất chúng khác lạ hơn những ai đã từng thấy. Thêm vào đó còn mang cả đai lưng gai mít. Họ "muốn hỏi và tiên đoán tự mình cũng không đúng cách" – nên bàn bạc thống nhất sẽ đưa sa-di vào ra mắt Chao Fa Krom Luang Itsarasunthon để ngài ngự giám.
Mẹ Ngut đã trao chiếc đai lưng gai mít này cho con cùng những lời "thì thầm dặn dò giáo huấn bí mật". Sa-di Toh giặt nhuộm đai cho mới tinh, chuẩn bị cho ngày vào chầu.
Lời dặn của Phra Ajahn Kaeo
Đến ngày mùng 5 tháng 5, Phra Horathibodi, Phra Wichien, Thư ký Duang đến Bang Lamphu, báo cho Ajahn Kaeo. Ajahn Kaeo đồng ý, rồi gọi sa-di Toh đến nhắc nhở về quy củ đi đứng với bậc đại quý tộc:
Dùng từ ngữ như thế này thế kia. Khi Ngài hỏi gì thì phải có niệm cẩn trọng. Nói nhiều quá như kẻ say cũng không được. Nói ít đến mức phải hỏi gạn lại cũng không được. Không nói cũng không được. Nói lỡ miệng đụng chạm cũng không được. Phải cẩn trọng giữ niệm chánh niệm trong lời nói. Khi nói đừng nhìn chằm chằm vào mặt Ngài. Khi nói đừng đảo mắt nhìn đi nơi khác. Đừng cười. Đừng hoảng hốt. Đừng sợ. Đừng liều. Hãy làm nét mặt cho tốt.
Sa-di Toh vào phòng đắp y, thắt đai, thắp nhang nến chú nguyện một khoảnh khắc, rồi đi ra gặp ba vị quan.
Vào Cung điện Cũ
Thuyền bốn mái chèo xuôi xuống bến Tam Nak Phae trước Cung điện Cũ – phía dưới chùa Rakhang bên bờ Thonburi. Sa-di được đưa lên điện chính.
Nhân viên vào tâu rằng Phra Horathibodi dẫn sa-di đến chầu. Đông cung Thái tử ngự ra, ban lời hỏi thăm ba vị quan. Khi nghe tâu trình phẩm hạnh của sa-di xong, ngài ngự xem sa-di Toh và – theo ghi chép – thấy sa-di Toh hào quang rực rỡ, hào quang thân thể tỏa sáng đẹp đẽ có uy khí, do sức uy đức của giới công đức, định công đức, tuệ công đức vốn được nuôi dưỡng phù hợp với y ca-sa. Và có đai lưng gai mít giống của các quan cảnh sát cao cấp thắt đeo làm vật dụng đi kèm.
Kết
Chương bốn khép lại ngay tại khoảnh khắc Đông cung Thái tử đang nhìn sa-di Toh và đai lưng gai mít của ngài. Theo ghi chép của Maha Ammat Trai Phraya Thipkosa, đây là khoảnh khắc tiểu sử Somdej Toh chuyển từ đời học đạo riêng tư sang vòng quỹ đạo của hoàng gia – một vòng quỹ đạo sẽ theo ngài suốt bốn triều đại.
Cao tăng trong bài viết này
Somdej Phra Phuttachan (Toh)
Xem tiểu sử đầy đủ và vật phẩm tiêu biểu
Đọc thêm
Câu chuyện·23/04/2026Bức ảnh bí ẩn "vị sư dạy học cho trẻ" – Hiểu lầm kéo dài về Somdej Toh
Đây là phần phụ lục ngoài 12 chương tiểu sử. Bài viết trích từ Matichon Sudsapda năm 2548 (2005), giải mã một hiểu lầm lâu năm: bức ảnh "vị sư già dạy học cho đứa trẻ" thường được in kèm sách về Somdej Toh, với chú thích đó là Somdej Toh đang dạy vua Piyamaharat (Rama V) thời thiếu niên. Niên đại sắc phong, kiểu quạt lễ, cách đắp y, và đặc biệt là lời xác nhận của Mom Chao Ying Phunphitsamai Diskul – con gái của Krom Phraya Damrong Rajanubhab – đều cho thấy đây không phải Somdej Toh, mà là một bức bưu thiếp do Robert Lenz dàn dựng cho sách SIAM 1909.
Câu chuyện·23/04/2026Câu chuyện Somdej Toh – Phần 12 Lời kết và Mười Phước Nghiệp Sự
Chương mười hai là chương ngắn nhất, nhưng là chương đóng cả bộ. Người biên soạn Maha Ammat Trai Phraya Thipkosa nối tiếp lời dặn Bhaddekaratta ở chương mười một, chuyển sang lời căn dặn dành cho người xuất gia, rồi dẫn giáo pháp mà Đức Phật nhắn với Tôn giả Ananda về bốn đối tượng đáng cúng dường: tượng Phật, cội bồ-đề, bảo tháp xá-lợi, kinh văn. Từ đó mở ra Mười Phước Nghiệp Sự (Puññakiriyāvatthu). Chương khép bằng lời mời: ai biên soạn hay giữ cuốn tiểu sử Somdej Toh trong nhà cũng coi như có một "yantra Đại Cát Tường", và bằng bài thơ ngày khởi – ngày hoàn tất biên soạn.
Câu chuyện·23/04/2026Câu chuyện Somdej Toh – Phần 11 Ngày viên tịch và lời dặn cuối
Chương mười một là chương viên tịch. Tháng 5 năm Thân Chatwasok Tiểu Lịch 1234, sau khi đi xem thợ đúc Phra To ở Wat Bang Khun Phrom, Somdej Toh lâm bệnh do tuổi già 15 ngày rồi viên tịch tại nhà giảng lớn, thọ 84 tuổi tròn. Kim thân được dâng xuống bến sông Chao Phraya, đưa về Wat Rakhang bằng thuyền hoàng gia, có 6 aphirom, 24 trống chana. Tại bến đưa tang, Phra Dhammathavorn phát ba vạn phra phim. Chương cũng kể về lịch sử Wat Inthrawihan qua nhiều đời, câu chuyện Phra Yuen Ham Yat thất bại, và bài Bhaddekaratta-gāthā mà người biên soạn đặt làm lời dặn cuối.
Câu chuyện·23/04/2026Câu chuyện Somdej Toh – Phần 10 Từ 12 con giáp đến ma Nang Nak
Chương mười là chương có mật độ giai thoại dày nhất. Bài pháp 12 con giáp cứu tên hầu khỏi trận đòn của Somdet Chao Phraya. Hội nghị các nhà bác học đa quốc gia – ngài đứng lên hô "Piccarana, Mahapiccarana" suốt hai giờ khiến không ai dám đăng đàn. Ẩn dụ "hai chị em hỏi vị chồng" để nói về Niết Bàn. Rồi cái khóa thắt lưng làm từ xương trán ma Nang Nak ở Phra Khanong, trò chuyện với bầy quạ cổng Anong Khalila, và lời nhắn dịu dàng cho tên trộm khiêng thuyền dưới kuti. Cuối chương, ngài xin ân chiếu nghỉ hưu, nâng lên Somdej Phra Rachakhana kittimasak danh dự.
Câu chuyện·23/04/2026Câu chuyện Somdej Toh – Phần 9 Những giai thoại cuối triều Rama IV
Chương chín là chương của các giai thoại lẻ – những câu chuyện kể giữa bạn bè, giữa thầy trò, ngoài biên niên sử chính thống. Somdej Toh rẽ sóng Ban Laem bằng một cây quạt lá thốt nốt, chế quả bầu thắp nến trong cơn bão, bị đuổi khỏi vương quốc vì giảng bài Kapilavatthu rồi vào ngủ trong chánh điện mà khất thực không xuống đất. Khi vua Pin Klao băng hà và 8 vị sư tụng Abhidhamma hoảng chạy trốn sau màn, ngài đốt ba lỗ nhang trên ngự bút để nói bằng ẩn dụ: "Dập Tham, Sân, Si là ba đám lửa đi." Cuối chương, vua Chom Klao băng hà, Chula Chom Klao (Rama V) đăng cơ lúc 15 tuổi – và bà tiểu thiếp Chan Lek của Somdet Chao Phraya qua đời.