Câu chuyện Somdej Toh – Phần 6 Từ Maha Toh đến Phra Dhammakiti
23/04/2026
Chương sáu trong ghi chép của Maha Ammat Trai Phraya Thipkosa (Son Lohanan) trải dài qua gần năm mươi năm đời tu của Somdej Toh. Sau đại lễ upasampadā ở Wat Takrai, ngài trở về Bangkok, trú ở Wat Nipphanaram, rồi được vua Rama II ban danh hiệu Maha Toh cùng thuyền Krap Si. Khi Rama III lên ngôi, ngài rút lui, đem gia tài mẹ xây tượng Phật nằm ở Ang Thong, rồi sống lặng suốt 25 năm. Đến khi vua Rama IV lên ngôi, ngài bị đi thudong trốn, nhưng cuối cùng vẫn phải về nhận sắc phong Phra Dhammakiti, trụ trì Wat Rakhang Khositaram. Chương này cũng kể buổi đấu pháp với Phra Phimolatham về đạo sĩ Kaladevindra.

Mở đầu
Chương năm khép lại ở bữa cơm sáng tại sala Wat Takrai. Chương sáu mở ra ngay sau đó, rồi đi thẳng qua gần nửa thế kỷ – từ ngày tân tỳ-kheo Toh mới xuất gia đến ngày ngài trở thành Phra Dhammakiti, trụ trì Wat Rakhang Khositaram. Theo ghi chép của Maha Ammat Trai Phraya Thipkosa (Son Lohanan), đây là chương cho thấy tính cách rất riêng của Somdej Toh: vừa được hoàng gia sủng ái vừa luôn tìm cách thoái lui, vừa thuyết pháp hùng hồn vừa thích giả điên, vừa học Tam Tạng uyên thâm vừa mang một chất châm biếm khó lẫn.
Bữa cơm sau đại lễ và ngày trở về Bangkok
Sau khi thí chủ dâng thức ăn, chư Tăng thọ thực, tân Tỳ-kheo Toh nhận phẩm vật trai tặng chất đống không sao kể xiết. Nhóm võ sĩ múa côn đao, quyền võ quây từng cặp, nhóm ca khúc hát đối, nhóm trống Miến Điện gõ nhịp. Lễ khánh hỷ kéo dài đến 5 giờ chiều. Ba vị Bà-la-môn tụng bài tán Phra Suli Thewa Rat Prasit, mở waen unalom, xoay nến 7 vòng chúc mừng.
Hôm sau là ngày mùng 2 ngoài tháng 6 âm lịch, Phraya Phitsanulok cho đưa Somdet Phra Wannarat, Tỳ-kheo Toh và Phra Acharn Kaew về Bangkok. Năm thuyền nối đuôi xuôi dòng. Ngày mùng 6 ngoài, đoàn đến Wat Nipphanaram. Somdet Phra Saṅgharāja Chao liền giao cho Somdet Phra Wannarat làm Phra Acharn dạy Pariyatti Dhamma tiếp theo, vì:
Việc dạy, việc giảng xin là gánh nặng của Somdet đi, vì ta đã già rồi, gió cũng mạnh, thức ăn cũng ít, ngủ cũng khó say, giảng kinh cũng hay bị lỡ lỡ sai sai.
Ngài dạy Phra Khru Thana chuẩn bị kuti cho Tỳ-kheo Toh cư trú trong phân khu Tamnak chùa Nipphanaram.
Vào chầu Vương cung Cũ
Các sappurut và sika – thiện nam thiện nữ quen biết Tỳ-kheo Toh từ hồi còn là sa-di – kéo đến thăm hỏi cam kết hộ pháp. Vào mùa an cư năm đó, ngài đi học kinh điển với Somdet Phra Wannarat thường xuyên, "có kiến thức uyên thâm sâu sắc về Giáo-Luật Tam Tạng không vướng mắc".
Cùng với bảy vị cư sĩ thân tín – Phra Horathibodi, thư lại Duang, Phra Wichian, Khun Phrom, Palat Nut, Khrua Yai Hong, thư lại Bun – ngài vào chầu Phra Ratchawang Doem (Vương cung Cũ). Somdet Phra Chao Luk Ya Thoe, Chao Fa Krom Luang Itsarasunthon ngự ra nhận phước báu hoàng gia, dâng mình làm Đại Thí chủ.
Maha Toh và thuyền Krap Si
Năm Dần Atthasok, Chulasakarat 1168 (Phật lịch 2349, năm 1806), Tỳ-kheo Toh 30 tuổi, 10 hạ lạp. Đây là năm Chao Fa Krom Luang Itsarasunthon được ban quyền hành "Phra Boworn Ratcha-itsara-sak" thăng lên cao hơn. Sau lễ Uparaja-phisek, ngài vào chầu dâng lời chúc phúc. Liền được ban thuyền ngự "Krap Si" (Rưa Si) cho Tỳ-kheo Toh, truyền: "Giữ lấy để đi thuyết pháp cứu giúp thân quyến Phật tử." Cùng với phong tặng làm Maha Toh.
Từ đó mọi người gọi ngài là Maha Toh khắp cả đất nước. Nếu có Phật sự trong Vương cung Phó, Phra Maha Toh phải được mời tham gia.
Hai vị Somdet Phra Saṅgharāja và một ngôi chùa đổi tên
Hai năm sau, Somdet Phra Saṅgharāja Mi viên tịch. Năm Tỵ Eksok, Chulasakarat 1171 (Phật lịch 2352, năm 1809), Krom Phra Ratchawang Boworn lên ngôi, sắc phong Phra Pannya Wisarathera (Phra Chinnavorn) chùa Thamoray làm Somdet Phra Saṅgharāja Chao mới. Ngài ban tên mới cho chùa Nipphanaram là "Wat Mahathat" (Chùa Đại Xá Lợi). Phra Maha Toh đã hành uposatha sangha-kamma (Bố-tát tập thể) với hai vị Somdet Phra Saṅgharāja: Somdet Phra Saṅgharāja Mi và Somdet Phra Saṅgharāja Nak.
Năm này Phra Maha Toh 12 hạ lạp, dưới triều Phra Phutthaloetla Napalai – vua Rama II. Theo ghi chép, ngài "mang phong thái oai nghi tự hào, thuyết pháp lời lẽ hùng hồn dũng cảm, vì thông thạo uyên bác Tam Tạng Kinh Điển thấu đáo". Lộc phụ trội gấp đôi, đệ tử đông đảo, danh tiếng vang dội khắp kinh đô.
Dạy chữ Khom cho Hoàng tử trưởng
Năm Sửu Cửu-sok, Chulasakarat 1179 (Phật lịch 2360, năm 1817), Đức Vua cho xây cung mới tại Wat Mahathat vì Thun Kramom Fa Phra Ong Yai (Đại Điện hạ Hoàng tử trưởng) sẽ xuất gia làm sa-di. Phra Maha Toh vào làm Phra Phi Liang (sư anh chăm sóc) và dạy chữ Khom cho đến kinh Mulakajjayana. Khi Somdet Phra Saṅgharāja bận, Phra Maha Toh giảng thay – từ đó thân thiết với Hoàng tử trưởng.
Chulasakarat 1186, năm Khỉ Chha-sok, Hoàng tử trưởng xuất gia làm Tỳ-kheo, ngự lên trú tại Wat Thamoray (đổi thành Wat Rachathiwat), rồi về Tamnak Doem ở Wat Mahathat. Phra Maha Toh lại là người giảng Giáo-Luật và Pariyatti Dhamma. Cùng năm đó, Phra Phutthaloetla Napalai băng hà vào thứ Năm tháng 8, ngày ra 11 âm lịch, thọ 56 tuổi, trị vì 14 năm 10 tháng. Phra Maha Toh 49 tuổi, 28 hạ lạp. Điện hạ 21 tuổi. Phra Nang Klao Chao Yu Hua (vua Rama III) lên ngôi.
Khảo thí và câu trả lời rất Toh
Chulasakarat 1188, năm Chó Atthasok (Phật lịch 2369, năm 1826), vua Rama III ban lệnh gọi Hoàng tử trưởng dịch Pariyatti Dhamma ba ngày, đã dịch xong. Rồi cho Phra Maha Toh dịch để "đỡ khó chịu tai cho quen chút". Theo ghi chép:
Ngài vào dịch cúng dường, một ngày dịch được chừng một lanh gần, người giám sát cuộc khảo thí cầm quạt danh dự (phat yot) đến, ngài liền cuộn sách lại, đảnh lễ xin phép đi ra ngoài Vương cung. Ai hỏi: "Được rồi chăng ạ, thưa Khun Maha?" Ngài đáp nhận: "Được rồi nhé."
Đó là lần ngài thoái lui khỏi danh vị Phra Ratcha Khana lần đầu.
Tượng Phật nằm ở huyện Pa Mok
Năm Sửu Ek-sok, Chulasakarat 1191 (Phật lịch 2372, năm 1829), Hoàng tử trưởng dọn khỏi Wat Mahathat về Tamnak Doem ở Wat Thamoray. Phra Maha Toh 54 tuổi, 32 hạ lạp.
Có người báo tin mẹ già ở phía bắc bệnh nặng. Ngài cưỡi thuyền chèo lên, đem theo cả thuyền Krap Si để khoe mẹ. Nhưng mẹ đã qua đời trước đó. Ngài làm lễ trà tỳ xong xuôi, phân chia gia tài của mẹ cho thân quyến và cháu khắp nơi. Phần còn lại là bạc vàng, ngài đem đến huyện Pa Mok tỉnh Ang Thong, tại Wat Khun Intra Pramoon, xây một pho tượng Phật nằm có dáng vẻ xinh đẹp, dài rất nhiều, xây mấy năm mới hoàn thành.
Theo ghi chép, từ đó ngài:
Trở nên là vị Tỳ-kheo trầm tĩnh, có tâm chuyên nhất trên đạo quả tuệ giác, có quỹ đạo tâm hướng về cõi Lokuttara (Xuất thế gian), không bận tâm phô trương, khiêm nhường giữ mình.
Ngài làm việc lặng lẽ, giữ gìn lời nói suốt 25 năm, trải qua cả triều Phra Nang Klao Chao Yu Hua.
Rama IV lên ngôi, và cuộc trốn thudong
Năm Hợi Tosok, Chulasakarat 1212 (Phật lịch 2393, năm 1850), thứ Tư mùng 1 tháng 5 âm lịch, buổi đêm 8 thum 5 bat, Somdet Phra Nang Klao băng hà – thọ 63 tuổi 11 ngày, trị vì 25 năm 7 tháng 23 ngày. Phra Maha Toh lúc ấy 64 tuổi, 42 hạ lạp.
Các quan cung thỉnh Hoàng tử trưởng, Phra Ratcha Khana chùa Boworanives Wihan, hoàn tục lên ngôi – tức vua Rama IV (Mongkut).
Phra Maha Toh phản ứng rất đặc biệt: ngài đi khất thực thudong trốn mất mấy tháng. Khi vua nhớ ra, truyền lệnh gọi tìm cũng không gặp, nổi giận mắng Sangkhakari:
Thầy có bay lên trời cũng không được, có lặn xuống đất cũng không được, có xé thủng tường thành vũ trụ chạy trốn cũng không đi được.
Đến tháng bảy, có truyền chỉ đến các Chao Mueang phía nam, bắc, tây, đông khắp Vương quốc, bắt Phra Maha Toh đưa về kinh đô bằng được. Theo lời kể truyền lại, lần này Phra Maha Toh "thử pháp thuật đổi mặt, làm cho người quen biết không thể nhớ ra, nhìn thành là Tỳ-kheo khác, thả ngài đi cũng có". Người biên soạn ghi chú thêm: "Pháp thuật kiểu này, Phra Acharn gọi là Narai Plaeng Rup (Narayana biến hình)."
Sau ngài quán xét thấy các quan huyện bắt Tỳ-kheo đi phải nhịn ăn sáng trưa, phơi nắng phơi mưa – làm khổ chư Tăng. Ngài liền hiện thân cho Trưởng thôn Ban Phai biết, bị gửi đến trụ sở huyện. Phra Yan Pho lên nhận diện, áp tải xuống điện Amarin.
Sắc phong Phra Dhammakiti
Vua Rama IV phán:
Là thời của ta cai quản đất nước, thầy phải giúp ta nâng đỡ Phật giáo tối cao cùng nhau.
Sắc lệnh ban: Phra Ratcha Khana tại Phra Dhammakiti, Trụ trì Wat Rakhang Khositaram, với Thānanukrama ba vị, Nittayaphat (bổng lộc hàng tháng) mỗi tháng 4 tamlueng 1 baht, kèm lệ thực và quạt Talipat Chaek nhảy vàng ngang, cán ngà.
Khi ra khỏi Phra Borommaha Ratchawang, ngài tự vác quạt đi. Ghé Bang Khun Phrom và Bang Lamphu từ biệt các sappurut cũ – thư lại Duang, Phra Horathibodi cũ – rồi về Wat Mahathat từ biệt toàn thể chư Tăng. Xuống thuyền Krap Si (thuyền ngự ban từ thời Rama II), băng qua cùng với cháu là "Dek Chang", cầm bát, ba y cà-sa, đến bảo chư Tăng Wat Rakhang:
Chao Chiwit (Đức Vua) đã lập ta làm Phra Dhammakiti, đến trông coi chùa Rakhang này rồi nhé.
Ngài vác quạt Talapat phat chaek, đeo túi y bát sắc chỉ, đi "gàu gàu sồ sề vụng về vướng víu". Các Tỳ-kheo thấy buồn cười, muốn giúp cầm, Chao Khun Dhammakiti không chịu.
"Điên" và "tốt" trong miệng thế gian
Theo ghi chép, Phra Dhammakiti ở Wat Rakhang "làm hài hước nhiều, xem vui như sân khấu lớn hẳn hoi". Người ta đem số đi đánh, càng linh thiêng hơn mỗi ngày. Có người nói ngài điên, có người đáp:
Khi Khrua Toh điên thì rủ nhau hâm mộ, khen rằng Khrua Toh là người tốt. Giờ Khrua Toh là người tốt, nói ỉ ôi rằng Khrua Toh điên.
Có ngày thỉnh ngài thuyết pháp, kết thúc ngài bảo "Evaṁ phang kui", có ngày "Evaṁ kang-sue", có ngày "Evaṁ hun-han" – thay chữ Pali bằng tiếng giả, như thể thách người nghe có thật sự chú tâm vào nội dung hay chỉ đang nghe nghi thức.
Buổi đấu pháp về đạo sĩ Kaladevindra
Một lần, tại vương phủ Chao Fa Mahamala, Krom Muen Bamrap Parapak, có kỳ giảng pháp ba tháng hạ 3 ngày. Phra Phimolatham (On) dâng giảng, Phra Dhammakiti làm người đáp lễ "sappi".
Phra Phimolatham giảng "Pathama Sambodhi" chương Lakkhana Pariwatta, nội dung: đạo sĩ Kaladevindra khóc than vì sẽ chết trước khi thấy Siddhatta đắc đạo thành Phật, lại phải sinh vào Asaññī-bhava (vô tưởng địa) – quả của Arūpasamāpatti Nevasaññānāsaññāyatana-jhāna.
Ngày thứ ba, Chao Fa Mahamala hỏi Phra Phimolatham:
Lokiya-jhāna (thiền thế gian) này nghe nói có thể thối chuyển phải không?
Phra Phimolatham nhận: "Có thể thối chuyển." Chao Fa Mahamala ép tiếp:
Nếu thối chuyển được, tại sao Kaladevindra không làm cho thối chuyển trước đi, mà tu chỉ kamāvacara-jhāna (dục giới thiền), đến chết trước Siddhatta, cũng đủ đi tái sinh ở Rūpa-brahma hay Chakamāvacara tầng nào cũng đủ được. Cớ sao không làm cho tuệ của mình thối chuyển, phải ngồi khóc đổ nước mắt để làm gì?
Phra Phimolatham tắc tị. Phra Dhammakiti ngồi đáp sappi, thấy Phra Phimolatham im bặt, liền phát tiếng ợ lớn "ơ" rồi than:
Ôi chúng ta sao mà vậy. Chùa Rakhang ở gần kề, ngay vương phủ bên kia sông thôi, cớ gì không bơi sang, phải đến ép buộc thân chịu khổ nhọc đến khuya muộn 2 ngày 3 đêm như vầy.
Rồi ngài ngồi im.
Ngày mùng 7: câu trả lời
Chao Fa Mahamala gửi Dika thủ bút thỉnh Phra Dhammakiti giảng tiếp. Ngày mùng 7, giờ 3 thum, ngài đến, lên pháp tòa, khai triển bài kệ:
Vimalathammassa... Kasmāso Visocatīti
Ngài nói ngay: "Đệ tử phải bào chữa thay Chao Khun Phra Phimolatham, có nội dung theo Bali có trong Puggalapaññatti." Và giảng:
Kuppadhammo akuppadhammo
Ngài giải: lokiya-jhāna thối chuyển được ở người đáng thối chuyển, không thối chuyển ở người không đáng thối chuyển. Thói thường jhāna thoái được nhanh là thật, nhưng nếu chủ nhân của jhāna có lòng khao khát với sự việc, cảm xúc sinh khởi trong tâm là cái mới, cái cũ vẫn còn lưu luyến, buông dứt không được – "vì từng hưởng hạnh phúc quen thuộc với nhau đã lâu".
Ngài dùng ba hình ảnh:
- Người đang bệnh ốm không thể làm bộ khỏe mạnh ăn cơm ngon như người bình thường, và ngược lại.
- Người bên trong, người bên ngoài – người bên trong thấy người bên ngoài an lạc cũng không ra được, vì luyến ái sự quen thuộc bên trong. Người bên ngoài thấy người bên trong yểu điệu mịn màng cũng không trở thành người bên trong được.
- Người xuất gia và người chưa xuất gia – ai cũng chỉ nghĩ vui rồi không đổi thân phận, vì luyến ái hạnh phúc ở chỗ mình đang đứng.
Kết luận của ngài: jhāna cả 9 loại là pháp thoái chuyển được nhanh là sự thật, nhưng chưa đến lúc phải thoái, thì cũng chưa thoái được. Đạo sĩ Kaladevindra cũng vậy – không thể cố ý làm cho jhāna thoái. Chỗ ông khóc đó, "đệ tử hiểu rằng ông khóc tiếc khandha (uẩn), vì chưa nắm rõ khandha có bản chất biến đổi, tan vỡ là điều thường nhiên".
Cách giảng này khác hẳn các Đạo sư sớ giải thông thường – các vị kia chỉ nói Kaladevindra buồn vì sẽ chết trước khi Siddhatta thành Phật.
Kết
Chương sáu khép lại ở giữa một bài giảng – cố ý giữa chừng. Theo ghi chép của Maha Ammat Trai Phraya Thipkosa, đây là chương cho thấy bản chất sâu nhất trong đời tu của Somdej Toh: dù được sủng ái, dù được phong danh hiệu Maha, Phra Dhammakiti, dù được ban thuyền ngự Krap Si – ngài vẫn chọn lối trốn thudong, chọn xây Phật nằm bằng gia tài mẹ, chọn làm người "điên" trong miệng thế gian, và khi đứng trên pháp tòa thì chọn một lối giải kinh không giống ai.
Cao tăng trong bài viết này
Somdej Phra Phuttachan (Toh)
Xem tiểu sử đầy đủ và vật phẩm tiêu biểu